Tê giác
| Họ Tê giác | |
|---|---|
| Thời điểm hóa thạch: Hậu thế Eocen-Gần đây | |
Tê giác đen (Diceros bicornis) tại sở thú Saint Louis. | |
| Phân loại khoa học | |
| Giới (regnum) | Animalia |
| Ngành (phylum) | Chordata |
| Lớp (class) | Mammalia |
| Bộ (ordo) | Perissodactyla |
| Liên họ (superfamilia) | Rhinocerotoidea |
| Họ (familia) | Rhinocerotidae Owen, 1845 |
Khu vực phân bố của các loài tê giác | |
| Các chi | |
Các chi tuyệt chủng, xem văn bản | |
Tê giác hay con tê là những loài động vật có vú guốc lẻ trong họ Rhinocerotidae. Trong năm loài còn sinh tồn, hai loài sinh sống ở Châu Phi, và ba loài sinh sống ở Nam Á. Thuật ngữ "tê giác" thường được áp dụng rộng rãi hơn cho các loài hiện nay đã tuyệt chủng trong liên họ Rhocerotoidea.
Các thành viên của Họ Tê giác là một trong những động vật trên cạn lớn nhất, với tất cả các loài có thể đạt đến hoặc hơn trọng lượng một tấn. Chúng ăn thực vật, có bộ não nhỏ (400 đến 600 g), có một hoặc hai sừng và lớp da bảo vệ dày (1,5 đến 5 cm) được hình thành từ các lớp collagen nằm trong cấu trúc mạng tinh thể. Chúng thường ăn cỏ và lá cây, mặc dù khả năng lên men thức ăn trong ruột già của chúng cho phép chúng ăn các loại thực vật có sợi hơn khi cần thiết. Không giống như các động vật móng guốc lẻ khác, hai loài tê giác ở châu Phi thiếu răng ở phía trước miệng, thay vào đó dựa vào môi của chúng để nhổ thức ăn.[1]
Tê giác bị giết bởi một số người để lấy sừng của chúng, được mua và bán trên thị trường chợ đen, và được một số nền văn hóa sử dụng làm đồ trang trí hoặc cho y học cổ truyền.[2] Đông Á, cụ thể là Việt Nam, là thị trường lớn nhất trong việc buôn bán sừng tê giác. Theo trọng lượng, sừng tê giác có giá trị như vàng trên thị trường chợ đen. Người ta mài sừng và tiêu thụ chúng, tin rằng bụi của chúng có đặc tính trị liệu.[3] Sừng tê giác được tạo nên từ keratin, loại protein cùng tạo nên tóc và móng tay.[4] Cả hai loài tê giác châu Phi và tê giác Sumatra đều có hai sừng, trong khi tê giác Ấn Độ và tê giác Java chỉ có một sừng. Sách đỏ IUCN đánh giá tê giác đen, Javan và Sumatra là các loài cực kỳ nguy cấp.
Tên gọi
[sửa | sửa mã nguồn]Trước năm 1954, trong phương ngữ tiếng Việt miền Bắc con tê giác được gọi là tê ngưu (chữ Hán: 犀牛) hoặc con tê, cái sừng của con tê ngưu gọi là "tê giác" (犀角), trong đó "giác" (角) là từ Hán Việt, nó có nghĩa là cái sừng. Phương ngữ tiếng Việt miền Nam khi đó gọi con tê giác là tây ngưu (biến thể ngữ âm của "tê giác) hoặc con tây, sừng của con tây ngưu được gọi là "tây giác". Về sau nhiều người không biết "tê giác" chỉ là cái sừng của con tê ngưu, lại tưởng tê giác là tên gọi của con vật có cái sừng đó nên đã gọi con tê ngưu là "tê giác".
Trong tiếng Anh, tê giác được gọi là Rhinoceros hay Rhino - /raɪˈnɒsərəs/, xuất phát từ tiếng Hy Lạp rhinokerōs, nghĩa là 'mũi sừng' (từ rhis nghĩa là 'mũi', và keras nghĩa là 'sừng')
Miêu tả
[sửa | sửa mã nguồn]Tê giác nằm trong số những loài động vật trên cạn lớn nhất còn tồn tại. Các loài hiện nay có trọng lượng trung bình dao động từ 775 kilôgam (1.709 lb) ở tê giác Sumatra, đến 2.300 kilôgam (5.100 lb) ở tê giác trắng.[5] Một số loài đã tuyệt chủng thuộc họ Tê giác có kích thước nhỏ hơn hoặc lớn hơn đáng kể so với các loài ngày nay. Chẳng hạn, chi Menoceras sống vào thời kỳ thế Miocen sớm ở Bắc Mỹ có khối lượng cơ thể ước tính chỉ khoảng 313 kilôgam (690 lb),[5] tương đương với một con cừu,[6] hoặc lợn.[7] Ngược lại, loài Elasmotherium sibiricum lại có khối lượng ước tính lên tới khoảng 4.500 kilôgam (9.900 lb).[5] Hộp sọ của tê giác nhìn chung thấp và có hình yên ngựa. Về mặt tiến hóa, cấu trúc răng nguyên thủy của chúng rất đặc trưng: chỉ gồm một chiếc răng cửa trên (I1) dẹt sắc như lưỡi đục và một chiếc răng cửa dưới (i2) nhọn dài như chiếc ngà nhỏ, trong khi toàn bộ răng nanh cùng các răng cửa còn lại thường đã bị tiêu giảm.[7] Riêng tê giác đen và tê giác trắng hoàn toàn không có răng cửa.[8] Các loài tê giác hiện đại có một hoặc hai sừng. Cấu trúc sừng được tạo thành từ các cột tế bào sừng (corneocyte) xếp khít vào nhau, bắt nguồn từ các nhú chân bì (dermal papillae). Quá trình hình thành và phát triển của sừng tê giác tương tự như móng tay ở người, vì cả hai đều có thành phần chủ yếu là keratin.[9] Sừng được gắn chặt vào một vùng xương sần sùi trên bề mặt hộp sọ. Tuy nhiên, sừng không phải là đặc điểm chung của mọi thành viên trong họ Tê giác. Rất nhiều loài đã tuyệt chủng được cho là hoàn toàn không có sừng (chẳng hạn như hầu hết các loài thuộc phân họ Aceratheriinae[10]).[7] Sừng thực sự có lẽ chỉ xuất hiện ở phân họ Rhinocerotinae (phân họ Tê giác thật sự). Giả thuyết này được đưa ra vì các nhóm không thuộc phân họ này đều thiếu các dấu vết xương sần sùi hình vòng trên hộp sọ – vốn là nơi đóng vai trò làm điểm bám cho sừng ở các loài tê giác hiện đại.[11]
Bộ não của tê giác tương đối nhỏ so với kích thước cơ thể,[12][13] chỉ nặng khoảng 531 gam (18,7 oz) ở một cá thể tê giác đen trưởng thành.[13] Cấu trúc xương chi của chúng thường rất to khỏe và rắn chắc. Tất cả các loài tê giác hiện nay và đại đa số các loài đã tuyệt chủng đều có ba ngón trên mỗi bàn chân.[7] Cơ thể chúng được bao bọc bởi một lớp da dày như áo giáp, được cấu tạo từ mạng lưới các sợi collagen đan chéo dày đặc, tạo nên độ bền và độ cứng vượt trội so với da của các loài thú khác.[14] Đặc trưng của lớp da này là những nếp gấp rất rõ rệt.[15] Ở các loài ngày nay, da thường mang màu sắc xám hoặc nâu. Khi trưởng thành, cơ thể chúng thường nhẵn thín hoặc có rất ít lông, ngoại trừ phần lông mi, lông quanh vành tai và chỏm lông ở chóp đuôi.[16] Riêng tê giác Sumatra là một ngoại lệ khi cơ thể chúng được bao phủ bởi một lớp lông khá rậm rạp.[17]
Về mặt di truyền, trong mỗi tế bào, tê giác đen có 84 nhiễm sắc thể (bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội, 2n), trong khi tất cả các loài tê giác khác đều có 82 nhiễm sắc thể. Tuy nhiên, hiện tượng đa hình nhiễm sắc thể có thể dẫn đến sự biến thiên về số lượng này. Chẳng hạn, một nghiên cứu đã ghi nhận ba cá thể tê giác trắng phương Bắc chỉ mang 81 nhiễm sắc thể.[18]
Tập tính
[sửa | sửa mã nguồn]Tập tính bầy đàn của tê giác có sự khác biệt rất lớn giữa các loài. Những con đực trưởng thành thường sống đơn độc. Tê giác cái ở châu Á cũng có tập tính tương tự, nhưng ở châu Phi, con cái đôi khi tụ tập thành nhóm nhỏ; trong đó, tê giác trắng có xu hướng lập bầy phổ biến hơn so với tê giác đen. Chế độ ăn của tê giác rất đa dạng: từ chuyên gặm cỏ sát mặt đất (như tê giác trắng), chủ yếu vặt lá và cành non trên cao (như tê giác đen), cho đến kết hợp cả hai kiểu ăn này (như tê giác Sumatra và tê giác Java). Do phải tiêu thụ một lượng lớn thực vật có giá trị dinh dưỡng thấp, tê giác dành phần lớn thời gian trong ngày chỉ để kiếm ăn.[19] Quá trình tiêu hóa của chúng dựa vào hệ thống lên men ở ruột sau.[20]
Tất cả các loài tê giác hiện nay đều có chế độ giao phối đa phu và đa thê; nghĩa là cả con đực lẫn con cái đều tìm cách giao phối với nhiều cá thể khác giới. Tê giác đực sẽ theo sát bảo vệ những con cái đang ở độ tuổi sinh sản cho đến khi chúng hoàn toàn bước vào chu kỳ động dục, dù đôi khi con cái có thể xua đuổi con đực cho tới khi chúng thực sự sẵn sàng. Để xác định tình trạng sinh sản của con cái, con đực sẽ nếm nước tiểu của con cái và thực hiện phản ứng cuộn môi trên (flehmen response). Khi ở gần những con cái đang động dục, các con đực trưởng thành có thể trở nên hung hăng với đồng loại cùng giới. Những cuộc đụng độ này có thể chỉ dừng lại ở các hành vi đe dọa mang tính nghi thức, nhưng cũng có thể biến thành những trận tử chiến gây thương tích nặng nề. Ở một số loài, tê giác đực có tập tính bảo vệ lãnh thổ; trong khi ở các loài khác thì không, hoặc tập tính này chỉ xuất hiện tùy thuộc vào điều kiện môi trường sống tại địa phương. Đôi khi, con cái sẽ cự tuyệt những con đực mà chúng không ưng ý; lúc này chúng sẽ bỏ chạy hoặc quay lại tấn công con đực nếu bị dồn vào đường cùng. Khi giao phối, con đực trượt phần cổ của mình dọc theo lưng con cái, sau đó dùng cổ làm đòn bẩy để nhấc bổng hai chân trước khỏi mặt đất, rồi chồm hai chân trước lên ôm lấy phần sau vai của con cái. Quá trình giao phối có thể kéo dài suốt nhiều giờ đồng hồ.[19] Thời kỳ mang thai của tê giác kéo dài hơn một năm, cụ thể là khoảng 460 ngày ở tê giác đen và 504 ngày ở tê giác trắng.[21]
Tê giác cái thường chọn những khu vực kín đáo để sinh con và có xu hướng trở nên hung dữ với đồng loại trong một khoảng thời gian sau khi sinh. Tê giác con thường có thể tự đứng vững chỉ trong vòng 30 phút và bắt đầu bú mẹ trong vòng hai giờ đầu đời. Tê giác mẹ luôn duy trì mối liên kết vô cùng khăng khít với lứa con mới sinh của mình. Cho đến khi đạt khoảng ba tuổi, tê giác non vẫn rất dễ trở thành mục tiêu của các loài thú săn mồi. Tê giác mẹ luôn bảo vệ con non một cách quyết liệt trước mọi mối đe dọa tiềm tàng. Ở loài tê giác một sừng, con non sẽ bị mẹ xua đuổi vào khoảng thời gian tê giác mẹ chuẩn bị sinh lứa tiếp theo.[22] Khoảng cách giữa hai lần sinh nở của tê giác cái thường kéo dài vài năm, tuy nhiên đôi khi cũng có thể rút ngắn xuống chỉ còn một năm rưỡi.[23] Tê giác đạt đến độ tuổi trưởng thành về mặt sinh dục khi được khoảng 5 đến 8 tuổi. Ở tê giác đen và tê giác Sumatra, con đực thường trưởng thành muộn hơn con cái khoảng một năm.[24][23] Trong khi đó, tê giác trắng đực chỉ thực sự trưởng thành cả về mặt sinh dục lẫn tập tính xã hội khi chạm mốc 12 tuổi, tức là muộn hơn bốn năm so với thời điểm tê giác cái bắt đầu sinh sản.[25]
Họ
[sửa | sửa mã nguồn]
Một số loài tê giác chỉ mới tuyệt chủng trong thời gian địa chất gần đây, nổi tiếng nhất là các loài trong Chi Thú Xương mỏng và tê giác lông mượt ở đại lục Á-Âu: nguyên nhân của sự tuyệt chủng này là do biến đổi khí hậu hay việc săn bắn của con người vẫn đang là vấn đề gây tranh cãi. Các chứng cứ hiện tại cho thấy chúng có lẽ đã sống sót qua nhiều thay đổi khí hậu cho đến khi người hiện đại xuất hiện.
Các động vật tương tự tê giác đã lần đầu tiên xuất hiện trong thế Eocen (34-56 triệu năm trước) như là các động vật có hình dáng ngoài thon thả, và vào thời kỳ cuối thế Miocen (5,3-23 triệu năm trước) đã tồn tại nhiều loài khác nhau. Phần lớn các loài này có bề ngoài đồ sộ. Một loài là Indricotherium đã cân nặng khoảng 30 tấn và (trong số các động vật đã biết) là một trong số các động vật lớn nhất trong số động vật có vú đã từng sống trên Trái Đất. Tê giác bị tuyệt chủng trong thời kỳ thế Pliocen (1,8-5,3 triệu năm trước) ở Bắc Mỹ, và trong thời kỳ thế Pleistocen (10.000 đến 1,8 triệu năm trước) ở Bắc Á và châu Âu.
Năm loài còn sống sót hiện nay thuộc về ba tông. Có ba loại ở châu Á là loài tê giác Sumatra đang ở tình trạng cực kỳ nguy cấp là đại diện duy nhất còn sống sót trong nhóm nguyên thủy nhất- Dicerorhinini- đã xuất hiện trong thế Miocen (khoảng 20 triệu năm trước). Loài tê giác lông tơ đã tuyệt chủng ở miền bắc châu Âu và châu Á cũng là thành viên của tông này. Còn hai loài thuộc tông Rhinocerotini vẫn đang sống sót là tê giác Ấn Độ (nguy cấp) và tê giác Java (cực kỳ nguy cấp), đã phân nhánh từ một gốc khác khoảng 10 triệu năm trước. Hai loài ở châu Phi là tê giác trắng và tê giác đen, đã phân nhánh trong thời kỳ đầu thế Pliocen (khoảng 5 triệu năm trước) nhưng chúng vẫn thuộc về nhóm Dicerotini ở giữa thế Miocen (khoảng 14 triệu năm trước). Khác biệt chính giữa tê giác trắng và tê giác đen là hình dạng môi/miệng của chúng. Tê giác trắng có các môi rộng và phẳng để gặm cỏ còn tê giác đen có các môi dài đầu nhọn để ăn lá cây. Tên gọi tê giác trắng trên thực tế là một sai lầm phổ biến xuất phát từ từ đồng âm trong tiếng Anh chỉ cái môi rộng của chúng.
Con lai của các phân loài tê giác trắng (Ceratotherium simum simum x Ceratotherium simum cottoni) đã sinh nở tại vườn thú Dvur Kralove (vườn bách thú Dvur Kralove nad Labem) tại Tiệp Khắc năm 1977.
Phân loại
[sửa | sửa mã nguồn]
- Họ Rhinocerotidae[26]
- Phân họ Rhinocerotinae
- Tông Aceratheriini
- Tông Teleoceratini
- Tông Rhinocerotini
- Tông Dicerorhinini
- Tông Dicerotini
- Phân họ Elasmotheriinae
- †Gulfoceras
- Tông Diceratheriini
- Tông Elasmotheriini
- Phân họ Rhinocerotinae
- † Họ Amynodontidae
- Phân họ Amynodontinae
- Tông Cadurcodontini
- Tông Metamynodontini
- Tông incertae sedis
- Phân họ incertae sedis
- Phân họ Amynodontinae
Sừng tê giác
[sửa | sửa mã nguồn]Đặc trưng phân biệt rõ nét nhất của tê giác là sừng lớn trên mũi. Sừng tê giác được sử dụng trong y học cổ truyền châu Á (Trung Quốc và Việt Nam), và dùng làm đồ trang sức (cụ thể là cán dao găm) ở Yemen và Oman. Sừng tê giác có thành phần cấu tạo gồm keratin tương tự tóc và móng tay con người, hoàn toàn không có giá trị y học.[27] Tại châu Á và nhất là ở Trung Quốc, Việt Nam, người dân mài sừng tê giác pha với nước hay rượu để uống và tin rằng nó có thể dùng để chữa bệnh.[28] Trung Quốc là nước tiêu thụ lậu sừng tê giác lớn nhất thế giới.
Cả năm loài tê giác đều không có tương lai an toàn: tê giác trắng có lẽ là ít nguy cấp nhất, tê giác Java hiện chỉ còn một số lượng rất nhỏ (khoảng 60 cá thể vào năm 2002) và là một trong hai hay ba loài động vật có vú lớn đang ở tình trạng nguy cấp nhất trên thế giới. Các chiến dịch bảo vệ tê giác được khởi động từ những năm thập niên 1970, nhưng quần thể tê giác vẫn tiếp tục suy giảm nghiêm trọng. Việc buôn bán các bộ phận cơ thể tê giác bị cấm theo các thỏa ước của CITES, nhưng việc săn bắn trộm vẫn là mối đe dọa nguy hiểm nhất cho tất cả các loài tê giác. Ngày 09 tháng 11năm 2008, bà Vũ Mộc Anh, Bí thư thứ nhất của đại sứ quán Nam Phi đã bị triệu hồi về nước. Báo Tuổi Trẻ trích lời đại sứ Việt Nam tại Pretoria Trần Duy Thi nói bà Vũ Mộc Anh chỉ nhận là bà đã "cầm hộ" sừng tê giác cho hai người Việt Nam.[29]
Hồi tháng 7 năm 2007, hai công dân Việt Nam khác cũng đã bị bắt giữ tại Sân bay quốc tế OR Tambo cùng bốn chiếc sừng tê giác. Đầu năm 2008, 18 kg sừng đã bị thu giữ khi được vận chuyển từ Nam Phi về tới Hà Nội.[30] Còn nhiều tê giác bị chết một cách đau đớn vì bị cắt mất sừng. Tại Nam phi năm 2012 ít nhất 668 con tê giác bị chết trong trường hợp này. Theo ông Bret Tolman, tổ chức bảo vệ thú vật TRAFFIC, trong chương trình "Tấm gương thế giới" (Weltspiegel), đa số những người buôn lậu hàng này bị bắt tại Nam Phi hay Mozambique là người Việt, ngay cả ở các phi trường Bangkok, Dubai hay Hongkong cũng vậy. 100g sừng tê giác tại một cửa hàng tại Hà Nội trị giá khoảng 2500 Dollar.[31]
Dự án Giải cứu tê giác
[sửa | sửa mã nguồn]Ngày 15/4/2015, trong một cuộc họp báo tại TPHCM, TS Lorinda Hern đại diện cho Rhino Rescue Project (Dự án Giải cứu tê giác) cho biết, họ đã quyết định bơm chất ectoparasiticides vào sừng tê giác để bảo vệ tê giác tại Nam Phi và những nơi có nạn săn bắt trộm. Với tê giác chất này là vô hại, nhưng nó có thể gây nguy hiểm đến sức khỏe người sử dụng.[32] Riêng trong năm 2014 đã có tới 1.200 con tê giác chết do nạn săn bắt ở Nam Phi đưa tới nguy cơ diệt chủng.
Nhà chữa cháy
[sửa | sửa mã nguồn]Có nhiều truyền thuyết về việc tê giác dập tắt lửa. Những câu chuyện như thế dường như rất phổ biến ở Malaysia và Myanmar.[cần dẫn nguồn] Loại tê giác này thậm chí có tên riêng trong tiếng Mã Lai, badak api, trong đó badak có nghĩa là tê giác và api nghĩa là lửa. Động vật này sẽ chạy đến khi có lửa trong rừng và dập tắt nó. Điều này đúng hay sai vẫn chưa được kiểm chứng, do chưa có tài liệu nào chứng kiến hay ghi nhận hiện tượng này trong thời gian gần đây. Điều này thiếu chứng cứ có thể là do thực tế là ngày nay tê giác rất hiếm khi được nhìn thấy ở Đông Nam Á, chủ yếu là do sự săn bắn bất hợp pháp rất phổ biến đối với loài động vật đang ở tình trạng cực kỳ nguy cấp này.
Hình ảnh
[sửa | sửa mã nguồn]- Khai quật răng của tê giác
Chú thích
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ "WHAT DO THE RHINOS EAT NORMALLY?". Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 7 năm 2020.
- ↑ "The Illegal Wildlife Trade".
- ↑ "Vietnam's Appetite For Rhino Horn Drives Poaching In Africa".
- ↑ "What is a rhinoceros horn made of?". Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2011.
- 1 2 3 Mallet, Christophe; Houssaye, Alexandra; Cornette, Raphaël; Billet, Guillaume (ngày 2 tháng 11 năm 2022). "Long bone shape variation in the forelimb of Rhinocerotoidea: relation with size, body mass and body proportions". Zoological Journal of the Linnean Society (bằng tiếng Anh). 196 (3): 1201–1234. doi:10.1093/zoolinnean/zlab095. ISSN 0024-4082.
- ↑ Mihlbachler, Matthew C. (ngày 15 tháng 11 năm 2007). "Sexual Dimorphism and Mortality Bias in a Small Miocene North American Rhino, Menoceras arikarense: Insights into the Coevolution of Sexual Dimorphism and Sociality in Rhinos". Journal of Mammalian Evolution (bằng tiếng Anh). 14 (4): 217–238. doi:10.1007/s10914-007-9048-4. ISSN 1064-7554.
- 1 2 3 4 D.R. Prothero "Rhinocerotidae" C.M. Janis, K.M. Scott, L. Jacobs (Eds.), Evolution of Tertiary Mammals of North America, Cambridge University Press, Cambridge (1998), pp. 595-605
- ↑ Hillman-Smith, A. K. K.; Owen-Smith, N.; Anderson, J. L.; Hall-Martin, A. J.; Selaladi, J. P. (tháng 11 năm 1986). "Age estimation of the White rhinoceros ( Ceratotherium simum )". Journal of Zoology (bằng tiếng Anh). 210 (3): 355–377. doi:10.1111/j.1469-7998.1986.tb03639.x. ISSN 0952-8369.
- ↑ Boy, S. C.; Raubenheimer, E.J.; Marais, J.; Steenkamp, G. (tháng 7 năm 2015). "White rhinoceros Ceratotherium simum horn development and structure: a deceptive optical illusion". Journal of Zoology (bằng tiếng Anh). 296 (3): 161–166. doi:10.1111/jzo.12229. ISSN 0952-8369.
- ↑ Lu, Xiao-Kang; Deng, Tao; Pandolfi, Luca (ngày 16 tháng 2 năm 2023). "Reconstructing the phylogeny of the hornless rhinoceros Aceratheriinae". Frontiers in Ecology and Evolution. 11 1005126. Bibcode:2023FrEEv..1105126L. doi:10.3389/fevo.2023.1005126. ISSN 2296-701X.
- ↑ Hieronymus T.L. 2009. Biological Sciences Osteological Correlates of Cephalic Skin Structures in Amniota: Documenting the Evolution of Display and Feeding Structures with Fossil Data. PhD Thesis. Athens: College of Arts and Sciences of Ohio University, USA. p. 33-43
- ↑ van Dongen PAM. 1998 Brain size in vertebrates. In The central nervous system of vertebrates (eds Nieuwenhuys R, ten Donkelaar HJ, Nicholson C), pp. 2099–2134. Berlin, Germany: Springer.
- 1 2 Bhagwandin, Adhil; Haagensen, Mark; Manger, Paul R. (ngày 31 tháng 8 năm 2017). "The Brain of the Black (Diceros bicornis) and White (Ceratotherium simum) African Rhinoceroses: Morphology and Volumetrics from Magnetic Resonance Imaging". Frontiers in Neuroanatomy. 11 74. doi:10.3389/fnana.2017.00074. ISSN 1662-5129. PMC 5583206. PMID 28912691.
- ↑ Shadwick, R. E.; Russell, A. P.; Lauff, R. F. (ngày 29 tháng 9 năm 1992). "The structure and mechanical design of rhinoceros dermal armour". Philosophical Transactions of the Royal Society of London. Series B: Biological Sciences (bằng tiếng Anh). 337 (1282): 419–428. doi:10.1098/rstb.1992.0118. ISSN 0962-8436. PMID 1359589.
- ↑ Endo, Hideki; Kobayashi, Hiroshi; Koyabu, Daisuke; Hayashida, Akiko; Jogahara, Takamichi; Taru, Hajime; Oishi, Motoharu; Itou, Takuya; Koie, Hiroshi; Sakai, Takeo (tháng 12 năm 2009). "The Morphological Basis of the Armor-Like Folded Skin of the Greater Indian Rhinoceros as a Thermoregulator". Mammal Study (bằng tiếng Anh). 34 (4): 195–200. doi:10.3106/041.034.0403. ISSN 1343-4152.
- ↑ Groves, Colin P; Leslie, David M (ngày 21 tháng 1 năm 2011). "Rhinoceros sondaicus (Perissodactyla: Rhinocerotidae)". Mammalian Species (bằng tiếng Anh). 43: 190–208. Bibcode:2011MamSp..43..190G. doi:10.1644/887.1. hdl:1885/52865. ISSN 0076-3519.
- ↑ Succop, Nick. "Dicerorhinus sumatrensis (Sumatran rhinoceros)". Animal Diversity Web (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2024.
- ↑ Houck, ML; Ryder, OA; Váhala, J; Kock, RA; Oosterhuis, JE (January–February 1994). "Diploid chromosome number and chromosomal variation in the white rhinoceros (Ceratotherium simum)". The Journal of Heredity. 85 (1): 30–34. PMID 8120356.
- 1 2 Hutchins, M.; Kreger, M. D. (tháng 7 năm 2006). "Rhinoceros behaviour: implications for captive management and conservation". International Zoo Yearbook (bằng tiếng Anh). 40 (1): 150–173. doi:10.1111/j.1748-1090.2006.00150.x. ISSN 0074-9664.
- ↑ Luo, Yu-heng; Wright, André-Denis G; Li, You-long; Li, Hua; Yang, Qi-hong; Luo, Ling-juan; Yang, Ming-xian (2013). "Diversity of methanogens in the hindgut of captive white rhinoceroses, Ceratotherium simum". BMC Microbiology (bằng tiếng Anh). 13 (1): 207. doi:10.1186/1471-2180-13-207. ISSN 1471-2180. PMC 3846858. PMID 24228793.
- ↑ Schwarzenberger, Franz; Hermes, Robert (tháng 4 năm 2023). "Comparative analysis of gestation in three rhinoceros species (Diceros bicornis; Ceratotherium simum; Rhinoceros unicornis)". General and Comparative Endocrinology (bằng tiếng Anh). 334 114214. doi:10.1016/j.ygcen.2023.114214. PMID 36646327.
- ↑ Hutchins, M.; Kreger, M. D. (tháng 7 năm 2006). "Rhinoceros behaviour: implications for captive management and conservation". International Zoo Yearbook (bằng tiếng Anh). 40 (1): 150–173. doi:10.1111/j.1748-1090.2006.00150.x. ISSN 0074-9664.
- 1 2 Muntifering, Jeff R.; Guerier, Abigail; Beytell, Piet; Stratford, Ken (tháng 9 năm 2023). "Population parameters, performance and insights into factors influencing the reproduction of the black rhinoceros Diceros bicornis in Namibia". Oryx (bằng tiếng Anh). 57 (5): 659–669. doi:10.1017/S0030605322001065. ISSN 0030-6053.
- ↑ Roth, Terri L.; Reinhart, Paul R.; Romo, John S.; Candra, Dedi; Suhaery, Andriansyah; Stoops, Monica A. (tháng 9 năm 2013). "Sexual maturation in the Sumatran rhinoceros (Dicerorhinus sumatrensis): Sumatran Rhino Sexual Maturation". Zoo Biology (bằng tiếng Anh). 32 (5): 549–555. doi:10.1002/zoo.21089. PMID 23897764.
- ↑ Cinková, Ivana; Policht, Richard (tháng 1 năm 2015). "Discrimination of familiarity and sex from chemical cues in the dung by wild southern white rhinoceros". Animal Cognition (bằng tiếng Anh). 18 (1): 385–392. doi:10.1007/s10071-014-0810-8. ISSN 1435-9448. PMID 25273823.
- ↑ Haraamo, Mikko (ngày 15 tháng 11 năm 2005). "Mikko's Phylogeny Archive entry on "Rhinoceratidae"". Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 11 năm 2005. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2009.
- ↑ "What is a rhinoceros horn made of?". Yesmag.bc.ca. ngày 9 tháng 10 năm 2003. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2010.
- ↑ Vietnam's Appetite For Rhino Horn Drives Poaching In Africa, by Frank Langfitt, ngày 13 tháng 5 năm 2013
- ↑ BBC (24/11/2008). "Triệu hồi nhân viên sứ quán". Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|ngày tháng=(trợ giúp) - ↑ BBC (19/11/2008). "Xác định danh tính nhân viên sứ quán". Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2013.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|ngày tháng=(trợ giúp) - ↑ Vietnam - Die blutige Spur der Nashornmafia ARD, 02.6.2013
- ↑ Bơm chất độc vào sừng tê giác để cứu loài vật đang bên bờ tuyệt chủng dantri, 16/04/2015
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]
Dữ liệu liên quan tới Rhinocerotidae tại Wikispecies
Tư liệu liên quan tới Rhinocerotidae tại Wikimedia Commons
(bằng tiếng Anh)
- Chapman, Jan. 1999. The Art of Rhinoceros Horn Carving in China. Christies Books, Luân Đôn. ISBN 0-903432-57-9.
- Laufer, Berthold. 1914. "History of the Rhinoceros." In: Chinese Clay Figures, Part I: Prolegomena on the History of Defence Armor. Field Museum of Natural History, Chicago, pp. 73–173.
(bằng tiếng Việt)
(bằng tiếng Anh)
- Quỹ tê giác quốc tế Lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2007 tại Wayback Machine
- Tê giác SOS
- Mục từ tê giác trên website của WWF.