Bước tới nội dung

Ayase Haruka

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Ayase Haruka
綾瀬 はるか
Image
Ayase tại Liên hoan phim quốc tế Tokyo lần thứ 37 vào năm 2024
SinhTademaru Aya
24 tháng 3, 1985 (41 tuổi)
Thành phố Hiroshima, Hiroshima, Nhật Bản
Học vịCao đẳng Đại học Teikyo
Nghề nghiệp
Năm hoạt động2000–nay
Chiều cao1,66 m (5 ft 5 in)

Tademaru Aya (tiếng Nhật: 蓼丸 綾), thường được biết đến với nghệ danh Ayase Haruka (tiếng Nhật: 綾瀬 はるか, sinh ngày 24 tháng 3 năm 1985), là một nữ ca sĩ kiêm diễn viên người Nhật Bản. Khởi nghiệp với nghề người mẫu áo tắm (gravure idol) vào năm 2000, Ayase bắt đầu được biết tới nhờ đóng vai chính trong phim truyền hình Sekai no Chūshin de, Ai o Sakebu (2004), sau đó cô tham gia một số tác phẩm truyền hình gây tiếng vang khác như Jin (2009-2011), Hotaru no Hikari: It's Only a Little Light In My Life (2010), phim truyền hình taiga Yae no Sakura (2013) của NHK và Kyō wa Kaisha Yasumimasu (2014).

Năm 2015, cô tham gia diễn xuất cùng Nagasawa Masami, Hirose Suzu và Kaho trong phim điện ảnh Umimachi Diary của Kore-eda Hirokazu – tác phẩm tham gia tranh giải Cành cọ Vàng tại Liên hoan phim Cannes 2015. Nhờ bộ phim, cô đã được đề cử ở hạng mục nữ diễn viên chính xuất sắc nhất tại giải Điện ảnh Viện Hàn lâm Nhật Bản lần thứ 39 và giải Điện ảnh Hochi lần thứ 40, đoạt giải cùng hạng mục tại giải Điện ảnh Mainichi lần thứ 70.

Ayase bắt đầu sự nghiệp âm nhạc vào 2006 với việc phát hành đĩa đơn đầu tay "Period". Cô đã tham gia làm thí sinh hoặc làm người dẫn chương trình cho một số mùa của chương trình Kōhaku Uta Gassen của NHK. Cô thường xuất hiện trong các cuộc bầu chọn những nữ diễn viên đẹp nhất và có thu nhập cao nhất tại Nhật Bản, đồng thời là gương mặt đại diện cho nhiều nhãn hàng tiêu dùng lớn ở Nhật Bản.

Thân thế và gia đình

[sửa | sửa mã nguồn]

Ayase sinh ra ở thành phố Hiroshima, tỉnh Hiroshima;[1] lớn lên ở Asaminami.[2] Gia đình cô là nông dân, trồng đủ loại rau theo mùa.[3] Cha cô vốn làm công việc thiết kế không gian bếp, nhưng đã nghỉ việc ở tuổi 42, 43 để kế nghiệp làm nông, trong khi anh trai cô sau khi tốt nghiệp đại học cũng đã trở về Hiroshima để tiếp tục công việc đồng áng.[3] Bố cô mất vì ung thư phổi vào tháng 6 năm 2019.[4]

Công ty cá nhân của Ayase Haruka mang tên Tapestry do chính mẹ cô giữ chức giám đốc đại diện (đại diện pháp luật), còn Ayase và anh trai đảm nhận vị trí thành viên Hội đồng quản trị (giám đốc điều hành).[5][6] Việc thành lập công ty cá nhân này vốn đã được Ayase và người cha quá cố của cô bàn bạc, thống nhất với nhau từ khi ông còn sống.[6]

Bà cô (chị của bà nội) của Ayase Haruka đã thiệt mạng trong vụ ném bom nguyên tử xuống thành phố Hiroshima vào ngày 6 tháng 8 năm 1945.[1] Năm 2005, trong chương trình tài liệu đặc biệt kỷ niệm 60 năm kết thúc chiến tranh mang tên Hiroshima (phát sóng trên TBS), Ayase đã về thăm ngôi nhà thời thơ ấu tại Hiroshima. Tại đó, lần đầu tiên cô được bà nội – người trước nay chưa từng kể về bom nguyên tử – tâm sự về câu chuyện bi thương ấy.[1]

Sự nghiệp

[sửa | sửa mã nguồn]

2000–2005: Bắt đầu sự nghiệp và các vai diễn truyền hình đầu tiên

[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2000, cô có màn ra mắt ngành giải trí khi giành chiến thắng giải của ban giám khảo tại cuộc thi tìm kiếm tài năng của Horipro lần thứ 25.[7][8][9] Lúc giành chiến thắng cuộc thi, nghệ danh của cô là Tademaru Aya, rồi khi bắt đầu sự nghiệp cô mới sử dụng nghệ danh Ayase Haruka. Nghệ danh do chính cô và đội tư vấn của cô chọn sau một cuộc trò chuyện mở trên Internet từ 16.000 đề xuất.[10]

Năm 2001, cô có vai diễn đầu tay với bộ phim truyền hình Kindaichi Shonen no Jikenbo của đài Nippon TV.[11] Năm 2003, cô sắm vai chính đầu tiên trong bộ phim truyền hình Boku no Ikiru Michi của đài Fuji TV.[12][13][14] Năm 2004, cô được chọn vào vai nữ chính của tác phẩm truyền hình Sekai no Chūshin de, Ai o Sakebu của đài TBS.[12][15] Trong phim, cô đã cạo trọc đầu để thủ vai nữ chính bị mắc bệnh ung thư máu.[16] Cô cũng thực hiện một số thay đổi với vai diễn, chẳng hạn như tăng hoặc giảm cân để phù hợp với vai hơn.[17] Vai diễn trong phim giúp cô đoạt giải Viện Hàn lâm truyền hình Nhật Bản cho nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất.[16] Năm 2005, Ayase được chọn làm MC của lễ trao giải Japan Record Awards lần thứ 47.[18] Cuối năm ấy, cô là thủ lĩnh đội đỏ tại chương trình NHK Kōhaku Uta Gassen lần thứ 64.[19]

2006–2014: Sản phẩm âm nhạc đầu tay, gây đột phá với Jin và Yae's Sakura

[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2006, cô một lần nữa đoạt giải Viện Hàn lâm truyền hình Nhật Bản cho nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất nhờ diễn xuất trong phim Byakuyakō.[20] Ngày 24 tháng 3 năm 2006, cô ra mắt với vai trò ca sĩ qua đĩa đơn "Period" do Kobayashi Takeshi sản xuất và Mochida Kaori (Every Little Thing) viết lời.[21] Đĩa đơn đã giành vị trí số 8 trên bảng xếp hạng Oricon.[22] Ngoài ra cô còn phát hành một số đĩa đơn khác như "Kōsaten Days" (交差点days?) (2006),[23] "Hikōkigumo" (飛行機雲?) (2007)[24] và "Māgaretto" (マーガレット?) (2010).[25]

Năm 2007, cô thủ vai trong bộ phim truyền hình Hotaru no Hikari của Nippon TV, đóng cùng Fujiki Naohito.[26] Vai diễn trong Hotaru no Hikari đem về cho cô một giải Viện Hàn lâm truyền hình Nhật Bản cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất.[27] Năm 2010, do phần đầu quá ăn khách mà phần hai của bộ phim được lên sóng, rồi đến năm 2012, bản phim điện ảnh đã được trình chiếu.[28] Vai diễn trong hai mùa phim của Jin cũng giúp cô thắng giải Viện Hàn lâm truyền hình Nhật Bản cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất vào các năm 2009 và 2011.[29][30] Cùng năm 2009, vai diễn trong tác phẩm điện ảnh Oppai Volleyball giúp cô được đề cử hạng mục nữ diễn viên chính xuất sắc nhất ở giải Điện ảnh Viện Hàn lâm Nhật Bản.[31] Năm 2013, cô sắm vai chính trong tác phẩm truyền hình taiga Yae no Sakura của đài NHK.[32][33] Một năm sau, vai diễn trong Kyō wa Kaisha Yasumimasu giúp cô giành giải Viện Hàn lâm truyền hình Nhật Bản cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất.[34]

2015–nay: Hợp tác với Kore-eda Hirokazu, Seirei no Moribito và Revolver Lily

[sửa | sửa mã nguồn]
Image
Ayase cùng dàn diễn viên phim Umimachi Diary tại Liên hoan phim Cannes vào tháng 5 năm 2015.

Năm 2015, cô tham gia diễn xuất cùng Nagasawa Masami, Kaho và Hirose Suzu trong tác phẩm điện ảnh Umimachi Diary của Kore-eda Hirokazu.[35] Tác phẩm được chọn tham gia tranh giải chính thức tại Liên hoan phim Cannes lần thứ 68.[36][37] Phim được khởi chiếu tại Nhật Bản vào ngày 13 tháng 6 năm 2015[38] và cũng có buổi ra mắt ở Luân Đôn, Anh vào ngày 14 tháng 10, trong khuôn khổ Liên hoan phim Luân Đôn (BFI).[39] Vai diễn của Ayase trong Umimachi Diary cũng giúp cô được đề cử hàng loạt giải thưởng lớn ở hạng mục nữ diễn viên chính xuất sắc nhất và thắng hạng mục này ở Liên hoan phim Yokohama.[40] Cuối năm 2015, cô nhận lời làm MC của chương trình NHK Kōhaku Uta Gassen lần thứ 66 lần thứ hai sau hai năm.[41]

Năm 2016, cô hóa thân thành vai Balsa trong bộ phim truyền hình Seirei no Moribito do NHK sản xuất.[42] Cô còn đích thân thể hiện kĩ năng đấu kiếm qua vai diễn vệ sĩ Balsa với vũ khí là một cây giáo ngắn.[43] Cô thể hiện vai diễn này từ mùa đầu tiên đến mùa thứ ba (tương ứng chương cuối của nguyên tác).[44] Năm 2017, vai diễn trong Caution, Hazardous Wife một lần nữa đem lại cho cô giải Viện Hàn lâm truyền hình Nhật Bản cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất.[45] Năm 2019, cô làm MC của đội đỏ tại chương trình NHK Kōhaku Uta Gassen lần thứ 70, đánh dấu lần thứ ba cô xuất hiện tại chương trình này sau bốn năm.[46]

Năm 2021, vai diễn trong phim điện ảnh Tengoku to Jigoku: Psychona Futari giúp Ayase đoạt giải nữ diễn viên chính xuất sắc nhất tại giải Tokyo Drama lần thứ 14.[47] Năm 2022, cô lần đầu đảm nhiệm vai diễn trong tác phẩm chiếu vào 9 giờ Thứ Hai là Motokare no Yuigonjou.[48] Đây là lần đầu cô thủ diễn trong phim của Fuji TV sau 14 năm kể từ Shikaotoko Aoniyoshi. Năm 2023, Ayase giành giải nữ diễn viên chính xuất sắc tại giải thưởng Hochi lần thứ 48 nhờ màn thể hiện trong các bộ phim điện ảnh The Legend & Butterfly và Revolver Lily.[49] Vai diễn trong Revolver Lily cũng giúp cô được đề cử hạng mục nữ diễn viên chính xuất sắc nhất ở giải Blue Ribbon và giải Điện ảnh Viện Hàn lâm Nhật Bản.[50][51] Tháng 9 năm 2025, Ayase tái hợp với đạo diễn Kore-eda trong dự án phim khoa học viễn tưởng Sheep in the Box.[52]

Đời tư

[sửa | sửa mã nguồn]

Ayase được một người bạn mời tham dự cuộc thi tìm kiếm tài năng của Horipro để tránh phải sinh hoạt ở câu lạc bộ.[53] Tháng 8 năm 2014, trong chuyến về thăm quê ở Hiroshima, một trận lở đất đã xảy ra tại vùng núi phía bắc thành phố. Ayase đã liên lạc để xác minh an toàn cho ngôi trường trung học cơ sở cũ và những người bạn của mình.[2] Tuy chỉ ở lại có ba ngày ngắn ngủi, nhưng cô đã dùng rau củ từ vườn nhà như cà tím, cà chua để nấu nhiều món ăn cho bố mẹ.[2]

Biên kịch kiêm tiểu thuyết gia Wada Ryō là bạn học cùng tiểu học và sơ trung với cô.[3] Năm 2014, trong cuộc trò chuyện với Wada, Ayase chia sẻ: "Mỗi lần về Hiroshima, tôi thường cuốc đất làm nông, cân từng gram để xuất hàng. Tôi thích công việc nhặt bỏ những chiếc lá ngắn của cải xoong, hoặc cắt bỏ cuống và rễ cây rau chân vịt, xếp chúng sao cho phần giữa cao hơn, rồi cho vào túi và dán miếng dán để đóng gói."[3]

Các mối quan hệ

[sửa | sửa mã nguồn]

Ayase Haruka có mối quan hệ rất thân thiết với Nagasawa Masami – người từng đóng chung với cô trong bộ phim điện ảnh Umimachi Diary. Cô thường gọi Nagasawa bằng biệt danh thân mật "Masaru-chan".[54] Sau Umimachi Diary, Ayase cùng với ba người bạn diễn vào vai bốn chị em trong phim là Nagasawa, Kaho và Hirose Suzu vẫn duy trì mối quan hệ, thường xuyên gặp gỡ nhau hàng năm.[55] Bên cạnh đó, Ayase cũng có tình bạn thân thiết với Nakatani Miki, người đã cùng cô đóng chung trong bộ phim truyền hình Jin.[56] Về phương diện tình cảm, Ayase từng được cho là đang trong mối quan hệ yêu đương với nam diễn viên Hàn Quốc No Min-woo.[6][57]

Sức khỏe

[sửa | sửa mã nguồn]

Trong lúc ghi hình cho bộ phim Boku no Kanojo wa Saibōgu, Ayase đã gặp tai nạn gãy mũi.[58] Ngày 31 tháng 8 năm 2021, Ayase thông báo trên Twitter và Instagram rằng cô đã dương tính với COVID-19. Dù ban đầu hồi phục tại nhà, song cô đã phải nhập viện sau khi phát hiện có những triệu chứng của viêm phổi.[59][60] Sau đó, tình hình sức khỏe của cô đã ổn định và được xuất viện sớm.[61]

Vấn đề pháp lý

[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2006, cô từng bị tạm giữ ở New Zealand vì bị nhầm là gián điệp.[62] Năm 2021, tạp chí Jojo Seven đưa tin rằng Ayase Haruka đang bị vướng vào một vụ rắc rối đầu tư trị giá lớn.[5][63] Một người đàn ông làm kế toán thuế – người mà gia đình Ayase từng nhờ cậy – đã đề nghị mẹ cô: "Trong thời kỳ lãi suất thấp như hiện nay, để tiền mặt trong ngân hàng thật lãng phí. Sao chị không thử đầu tư sinh lời?" Ông ta giới thiệu một sản phẩm đầu tư có lãi suất 3%/tháng, do một nhóm đầu tư gồm ba người ở độ tuổi 30, đứng đầu là một người đàn ông tên B, vận hành.[5][63] Mẹ của Ayase – người giữ chức vụ Giám đốc đại diện cho công ty quản lý cá nhân của cô – đã nghe theo và đầu tư 100 triệu yên từ quỹ công ty.[5] Đến tháng 5 năm 2021, khoản cổ tức được chi trả hàng tháng bỗng dừng lại.[5] Các nhà đầu tư được thông báo rằng "Tài khoản của ông B bị đóng băng do nghi ngờ rửa tiền, không thể rút tiền ra được".[5][63] Ayase được cho là vô cùng tức giận vì chuyện này đã kéo theo mẹ mình – người vốn không quan tâm đến đầu tư – và cả những người cao tuổi khác vào vòng xoáy rắc rối.[5]

Do đã thu gom một lượng lớn tiền mặt dưới danh nghĩa đầu tư với lời hứa bảo đảm gốc, Phòng Cảnh sát Đời sống Kinh tế của Cảnh sát tỉnh Hiroshima cùng với Đội điều tra chung của Đồn Cảnh sát Saeki đã bắt giữ 4 nghi phạm vào ngày 9 tháng 11 năm 2022. Các nghi phạm bao gồm một người đàn ông thất nghiệp (39 tuổi) ở quận Chuo, phường Akasaka, thành phố Fukuoka, và một người đàn ông làm luật sư thuế (74 tuổi) ở phường Higashi-Shirakishima, quận Naka, thành phố Hiroshima. Cả bốn đều bị bắt với tội danh vi phạm Luật Cho vay (cấm nhận tiền ký quỹ).[64]

Hoạt động xã hội

[sửa | sửa mã nguồn]

Sau dư âm của vụ động đất và sóng thần Tōhoku và thảm họa hạt nhân Fukushima (2011), Ayase đã thủ vai nhân vật chính Yae (Yamamoto) Niijima – một phụ nữ xuất thân từ phiên Aizu – trong bộ phim truyền hình lịch sử taiga Yae no Sakura (2013) của đài NHK. Kể từ đó, cô không ngừng duy trì các hoạt động hỗ trợ các khu vực bị ảnh hưởng bởi thiên tai, đặc biệt là tỉnh Fukushima. Tại chương trình Kouhaku Uta Gassen 2013 mà cô đảm nhận vai trò MC, Ayase đã thể hiện bài hát "Hana wa Saku" nhằm cổ vũ tinh thần tái thiết sau thảm họa do NHK phát động.[65]

Từ năm 2015, chương trình truyền hình Fukushima ni Koishite (Yêu lấy Fukushima) với sự tham gia của Ayase (ghi lại những chuyến thăm của cô tới nhiều địa điểm trong tỉnh để giao lưu với người dân địa phương) đã được NHK phát sóng định kỳ.[66] Tại thành phố Aizu-Wakamatsu, hàng năm diễn ra lễ hội "Aizu Matsuri". Từ năm 2014, Ayase thường xuyên tham gia đoàn diễu hành "Phiên quân Aizu" trong khuôn khổ lễ hội này. Ngay cả trong năm 2020 – khi đoàn diễu hành bị hủy bỏ do đại dịch COVID-19, cô vẫn tham dự các sự kiện trong nhà, đánh dấu năm thứ 7 liên tiếp góp mặt tại lễ hội. Tuy nhiên, vào năm 2021, do ban tổ chức (Hiệp hội Aizu Matsuri) quyết định không mời Ayase vì lý do tổ chức hạn chế, chuỗi tham dự liên tiếp của cô đã bị gián đoạn.[67] Đến năm 2022, đoàn diễu hành Phiên quân Aizu đã được tổ chức trở lại với quy mô như thường lệ sau 3 năm gián đoạn, và Ayase đã xuất hiện trở lại – đây là lần tham dự thứ 7 của cô, cũng là lần đầu tiên sau 3 năm.[68][69]

Nhờ mối duyên với bộ phim truyền hình Yae no Sakura, Ayase đã vinh dự được đặt tên cho một giống hoa anh đào Yae-zakura (anh đào nhiều cánh) mới với cái tên "Haruka" – với ý nghĩa là biểu tượng của sự phục hồi và tái sinh. Giống hoa này đã được Tổ chức Nghiên cứu và Phát triển Lâm nghiệp cùng các đơn vị liên quan đăng ký giống cây trồng vào tháng 5 năm 2021.[70] Tuy nhiên, để có thể phổ biến rộng rãi hơn tới công chúng, vào tháng 12 năm 2024, tổ chức này đã hủy bỏ đăng ký giống độc quyền, mở đường cho việc nhân giống và trồng cây giống "Haruka" một cách tự do trên diện rộng.[70]

Hình ảnh của công chúng

[sửa | sửa mã nguồn]

The Japan Times ví Ayase Haruka là "phiên bản Nhật của Anne Hathaway".[71] Cô thường xuyên được người hâm mộ bầu chọn trong các danh sách như "Top 10 sao nữ được yêu thích nhất", "Top 10 nghệ sĩ có làn da đẹp nhất", hay "Top 10 gương mặt được khát khao nhất".[72][73] Theo khảo sát của Oricon Style, trong bảng xếp hạng "Nữ nghệ sĩ nổi tiếng mà khán giả muốn chọn làm người yêu", Ayase đã 5 lần giành vị trí số 1 vào các năm 2009,[74] 2011,[75] 2014, 2015 và 2016.[76]

Bên cạnh đó, cô cũng được bình chọn là người đứng đầu trong "Bảng xếp hạng những nữ nghệ sĩ có hàm răng trắng sáng và đẹp nhất".[77] Về gương mặt của Ayase Haruka, bác sĩ thẩm mỹ Takasu Katsuya từng đưa ra nhận xét chuyên môn: "Rõ ràng đây là mỹ nhân không hề phẫu thuật thẩm mỹ. Bởi vì cái mũi hơi cong này trông vô cùng tự nhiên! (lược bỏ)... Sự mất cân đối đó chính là lý do tạo nên cảm giác thân thiện và mức độ yêu thích cao. Đây đúng là kiểu gương mặt bất đối xứng điển hình."[78]

Ayase được xem là nữ diễn viên có mức thù lao cao nhất trong giới giải trí Nhật Bản.[79] Tính đến năm 2016, cô từng nắm giữ vị trí quán quân trong danh sách "Top 30 nữ diễn viên quyền lực nhất" của tạp chí Nikkei trong bốn năm liên tiếp.[72][79] Năm 2020, Ayase dẫn đầu danh sách "10 sao nữ hình thể gợi cảm nhất" do tạp chí Shūkan Bunshun bình chọn.[60]

Ayase là đại diện phát ngôn cho nhiều nhãn hàng sản phẩm ở Nhật Bản,[80] xuất hiện trong nhiều quảng cáo cho các thương hiệu tiêu dùng lớn như Coca-Cola,[81] SK-II[82] và KFC.[83] Cô là gương mặt đại diện chính của Uniqlo tại Nhật Bản.[84]

Danh sách phim

[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách đĩa nhạc

[sửa | sửa mã nguồn]

Đĩa đơn

[sửa | sửa mã nguồn]
Năm Tên đĩa đơn Ngày phát hành Vị trí xếp hạng Nguồn
2006 "Period" (ピリオド Piriodo?) 24 tháng 3 năm 2006 8 [85]
"Kōsaten Days" (交差点days?) 13 tháng 9 năm 2006 8 [23]
2007 "Hikōkigumo" (飛行機雲?) 5 tháng 12 năm 2007 23 [24]
2010 "Māgaretto" (マーガレット?) 11 tháng 8 năm 2010 10 [25]

Đề cử và giải thưởng

[sửa | sửa mã nguồn]

Điện ảnh

[sửa | sửa mã nguồn]
Năm Giải Hạng mục Tác phẩm được đề cử Kết quả Chú thích
2007 Giải Elan d'or lần thứ 31 Diễn viên mới của năm Chính cô Đoạt giải [86]
2008 Giải điện ảnh Nikkan Sports lần thứ 21 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Boku no Kanojo wa Saibōgu, Ichi, Happy Flight Đoạt giải [87]
2009 Giải Hashida lần thứ 18 Diễn viên mới của năm Jin Đoạt giải [88]
Giải Blue Ribbon lần thứ 52 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Oppai Volleyball Đoạt giải [89]
Giải Điện ảnh Viện Hàn lâm Nhật Bản lần thứ 33 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Đề cử [31]
2015 Giải Nikkan Sports Drama Grand Prix lần thứ 18 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Kyō wa Kaisha Yasumimasu Đoạt giải [90]
Liên hoan phim Yokohama lần thứ 37 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Umimachi Diary Đoạt giải [40]
Giải Điện ảnh Hochi lần thứ 40 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Đề cử
Giải điện ảnh Nikkan Sports lần thứ 28 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Đoạt giải [91]
2016 Giải Blue Ribbon lần thứ 58 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Đề cử
Giải Điện ảnh Mainichi lần thứ 70 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Đoạt giải [92]
Giải Điện ảnh Viện Hàn lâm Nhật Bản lần thứ 39 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Đề cử [93]
Giải Điện ảnh châu Á lần thứ 10 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Đề cử [94]
Giải Điện ảnh Hochi lần thứ 41 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Kōdai-ke no Hitobito Đề cử
2019 Giải Nikkan Sports Drama Grand Prix lần thứ 22 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Gibo to Musume no Blues Đoạt giải [95]
2021 Giải Nikkan Sports Drama Grand Prix lần thứ 24 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Tengoku to Jigoku: Psychona Futari Đoạt giải [96]
Giải Tokyo Drama lần thứ 14 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Đoạt giải [47]
2023 Giải Điện ảnh Hochi lần thứ 48 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất The Legend and Butterfly và Revolver Lily Đoạt giải [49]
2024 Giải Blue Ribbon lần thứ 66 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Revolver Lily Đề cử [50]
Giải Điện ảnh Viện Hàn lâm Nhật Bản lần thứ 47 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Đề cử [51]

Truyền hình

[sửa | sửa mã nguồn]
Năm Giải thưởng Hạng mục Tác phẩm được đề cử Kết quả Chú thích
2004 Giải Viện Hàn lâm truyền hình Nhật BảnNữ diễn viên phụ xuất sắc nhấtSekai no Chūshin de, Ai o SakebuĐoạt giải[16]
2006ByakuyakōĐoạt giải[20]
2009JinĐoạt giải[29]
2010Nữ diễn viên chính xuất sắc nhấtHotaru no Hikari: It's Only a Little Light In My LifeĐoạt giải[27]
2011Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhấtJin 2Đoạt giải[30]
2014Nữ diễn viên chính xuất sắc nhấtKyō wa Kaisha YasumimasuĐoạt giải[34]
2017Caution, Hazardous WifeĐoạt giải[45]

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. 1 2 3 "綾瀬はるか「世界平和」の夢にこめた「祖母との約束」" [Ayase Haruka gửi gắm ước mơ 'thế giới hòa bình' qua 'lời hứa với bà nội']. Josei Jishin [女性自身] (bằng tiếng Nhật). 光文社. ngày 15 tháng 2 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2024.
  2. 1 2 3 "綾瀬はるか 広島帰省中に土砂崩れ発生し母校や友の安否確認" [Ayase Haruka về quê ở Hiroshima đúng lúc xảy ra lở đất, đi xác nhận sự an toàn của trường cũ và bạn bè] (bằng tiếng Nhật). NEWSポストセブン. ngày 28 tháng 8 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2024.
  3. 1 2 3 4 "綾瀬はるか 実家ではほっかむりして農作業 腕前はプロ級" [Ayase Haruka: Về nhà quấn khăn làm nông, tay nghề đạt trình độ chuyên nghiệp] (bằng tiếng Nhật). Deirī Shinchō [デイリー新潮]. ngày 25 tháng 5 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2023.
  4. ↑ "綾瀬はるか 父を亡くしていた、肺がん治療に寄り添った" [Ayase Haruka đã mất cha, sát cánh cùng cha trong quá trình điều trị ung thư phổi]. News Post Seven (bằng tiếng Nhật). ngày 12 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2026.
  5. 1 2 3 4 5 6 7 "綾瀬はるか「返して!」激怒 母親が1億円投資トラブルに巻き込まれる" [Ayase Haruka tức giận kêu ‘Trả lại!’ khi mẹ bị cuốn vào vụ đầu tư 100 triệu yên] (bằng tiếng Nhật). NEWS Post Seven [NEWSポストセブン]. ngày 15 tháng 9 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2023.
  6. 1 2 3 "「綾瀬はるか」新事務所設立と「本当に結婚なんて何もない」と親族は韓流婚否定も" [Ayase Haruka thành lập công ty riêng, người thân phủ nhận tin đồn kết hôn với sao Hàn: 'Thật sự chẳng có chuyện gì cả']. Daily Shincho (bằng tiếng Nhật). ngày 9 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2026.
  7. ↑ "『ホリプロTSC』愛媛の中2・山崎玲奈さんがGP「映画やドラマに出られる女優さんになりたいです!」" [Tại cuộc thi 'Horipro TSC', thí sinh đến từ Ehime – cô nàng học sinh lớp 8 Yamazaki Rena – đã giành giải Grand Prix và bày tỏ: 'Cháu muốn trở thành một nữ diễn viên có thể xuất hiện trong các bộ phim điện ảnh và truyền hình ạ!'] (bằng tiếng Nhật). Oricon News. ngày 12 tháng 12 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2024.
  8. ↑ "実は元アイドルと知って驚いた芸能人ランキング" [Bảng xếp hạng những nghệ sĩ từng là thần tượng nhưng ít ai ngờ tới (theo khảo sát tại Nhật Bản)] (bằng tiếng Nhật). zakzak. ngày 28 tháng 7 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2024.
  9. ↑ "自信がなくても、「よーい、どん」で走り出したら全力で ――綾瀬はるか流・女優の「続け方」" [Dù không có tự tin, nhưng một khi đã xuất phát với tiếng hô 'Chuẩn bị... Bắt đầu!', thì tôi sẽ chạy hết tốc lực - Đó chính là bí quyết 'trụ vững' của nữ diễn viên Ayase Haruka theo phong cách riêng của cô ấy]. リクナビNEXTジャーナル (bằng tiếng Nhật). Rikurū Tokyaria [リクルートキャリア]. ngày 9 tháng 7 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2024.
  10. ↑ "綾瀬 はるか(あやせ・はるか)" [Ayase Haruka]. Sanspo (bằng tiếng Nhật). Sankei Shimbun [産経新聞社]. ngày 28 tháng 2 năm 2001. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 3 năm 2001. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2024.
  11. ↑ "紅白司会は綾瀬はるかと櫻井翔 総合は内村光良" [Các MC của Kouhaku là Ayase Haruka và Sakurai Sho, người dẫn chính là Uchimura Mitsuyoshi] (bằng tiếng Nhật). Nikkan Sport [日刊スポーツ]. ngày 18 tháng 10 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2024.
  12. 1 2 "綾瀬 はるか" [Ayase Haruka] (bằng tiếng Nhật). Tarento Dētabanku [タレントデータバンク]. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2024.
  13. ↑ "Boku no Ikiru Michi". The TV (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2026.
  14. ↑ "僕の生きる道(全11話)#1-5" ['Boku no Ikiru Michi' (11 tập): Tập 1 đến tập 5]. Nihon-eiga (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2026.
  15. ↑ "Sekai no Chūshin de, Ai o Sakebu" (bằng tiếng Nhật). TBS. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2026.
  16. 1 2 3 "ザテレビジョン ドラマアカデミー賞" [Giải Viện Hàn lâm truyền hình Nhật Bản] (bằng tiếng Nhật). The Television. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2024.
  17. ↑ クメピポ! 絶対あいたい1001人 (bằng tiếng Nhật). Truyền hình TBS.
  18. ↑ "レコード大賞で土屋太鳳が司会に。じゃあ歴代の女性司会って?" [Tsuchiya Tao sẽ là MC của Record Awards. Vậy thế bạn dẫn MC nữ là ai?] (bằng tiếng Nhật). QUIZ JAPAN. ngày 9 tháng 12 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2024.
  19. ↑ "綾瀬はるか、4年ぶり『紅白』紅組司会で「影武者のように頑張る」" [Ayase Haruka dẫn đội đỏ của 'Kohaku' lần đầu tiên sau bốn năm và 'làm hết sức mình như một Kagemusha']. ORICON NEWS (bằng tiếng Nhật). oricon ME. ngày 28 tháng 10 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2024.
  20. 1 2 "ザテレビジョン ドラマアカデミー賞" [Giải Viện Hàn lâm Truyền hình Nhật Bản] (bằng tiếng Nhật). The Television. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2024.
  21. ↑ "綾瀬はるか初のシングル"ピリオド"に小林武史、持田香織(Every Little Thing)参加" [Kobayashi Takeshi và Mochida Kaori (Every Little Thing) tham gia đĩa đơn 'Period' của Ayase Haruka]. bounce (bằng tiếng Nhật). Tower Records [タワーレコード]. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2024.
  22. ↑ "女優・綾瀬はるかのデビュー・シングル、上戸彩以来の快挙達成!" [Đĩa đơn ra mắt của nữ diễn viên Ayase Haruka đạt thành tích đáng nể kể từ Ueto Aya!]. Oricon News (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2026.
  23. 1 2 "Ayase Haruka 交差点days" [Ayase Haruka Kōsaten Days]. jvcmusic.co (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2024.
  24. 1 2 "飛行機雲" [Hikōkigumo]. jvcmusic.co.jp (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2024.
  25. 1 2 "綾瀬はるか、新曲「マーガレット」の透明感溢れるミュージックビデオが解禁" [MV trong sáng ở bài hát mới 'Margaret' của Ayase Haruka đã được phát hành]. Bark.jp (bằng tiếng Nhật). ngày 22 tháng 7 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2024.
  26. ↑ "ホタルノヒカリ" [Hotaru no Hikari] (bằng tiếng Nhật). Nippon TV. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2026.
  27. 1 2 "第63回ドラマアカデミー賞発表" [Công bố giải Viện Hàn lâm Nhật Bản lần thứ 63] (bằng tiếng Nhật). The Television. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2026.
  28. ↑ "天然だけどスポーツ万能!好感度No.1の大人可愛い30代女優・綾瀬はるかのおすすめ映画6選!" [Diễn tự nhiên nhưng vẫn đa tài! Gợi ý sáu phim của Ayase Haruka, nữ diễn viên trưởng thành đáng yêu nhất ở độ tuổi ngoài 30 với điểm số yêu thích nhất]. ガジェット通信 (bằng tiếng Nhật). Tōkyō Sangyō Shinbun-sha [東京産業新聞社]. ngày 15 tháng 6 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020.
  29. 1 2 "第63回ドラマアカデミー賞発表" [Công bố giải Viện Hàn lâm Nhật Bản lần thứ 63] (bằng tiếng Nhật). The Television. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2026.
  30. 1 2 "第69回ドラマアカデミー賞発表" [Công bố giải Viện Hàn lâm Nhật Bản lần thứ 69] (bằng tiếng Nhật). The Television. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2026.
  31. 1 2 "第33回日本アカデミー賞優秀作品" [Giải thưởng Điện ảnh Viện Hàn lâm Nhật Bản lần thứ 33] (bằng tiếng Nhật). Hiệp hội giải Viện Hàn lâm Nhật Bản. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2024.
  32. ↑ "綾瀬はるか、キリリと咲く!2013年大河「八重の桜」で"幕末のジャンヌ・ダルク"に!" [Ayase Haruka, nở rộ đầy khí phách! Trở thành “Jeanne d’Arc thời Mạt Mạc” trong phim truyền hình taiga năm 2013 Yae no Sakura!]. Cinema Today (bằng tiếng Nhật). ngày 21 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2026.
  33. ↑ "NHK spotlights gunslinging daughter of the north in yearlong Sunday drama" [NHK làm nổi bật hình ảnh thiếu nữ miền Bắc tay súng trong bộ phim truyền hình dài kỳ chiếu Chủ nhật suốt một năm.]. The Japan Times (bằng tiếng Anh). ngày 4 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2026.
  34. 1 2 "第83回ザテレビジョンドラマアカデミー賞" [Công bố giải Viện Hàn lâm Nhật Bản lần thứ 83]. The Television. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2026.
  35. ↑ Ma, Kevin (ngày 24 tháng 5 năm 2014). "Kore-eda Hirokazu adapts Kamakura Diary". Film Business Asia. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2026.
  36. ↑ "是枝監督「海街diary」カンヌ出品、4作目のコンペ参加" [Phim 'Umimachi Diary' của Kore-eda được nộp tranh giải ở Cannes, là phim thứ tư của ông đi tranh giải] (bằng tiếng Nhật). Sponichi Annex. ngày 17 tháng 4 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2015.
  37. ↑ "綾瀬はるか・長澤まさみ・夏帆・広瀬すず、カンヌで美の競演!レッドカーペットを彩る!【第68回カンヌ国際映画祭】" [Ayase Haruka, Nagasawa Masami, Kaho, Hirose Suzu - dàn mỹ nhân tại Cannes! Nhuộm màu thảm đỏ [Liên hoan phim Cannes lần thứ 68]] (bằng tiếng Nhật). Cinema Today [シネマトゥデイ]. ngày 15 tháng 5 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2024.
  38. ↑ "Our Little Sister". gaga.co.jp (bằng tiếng Anh). Gaga Corporation. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2026.
  39. ↑ "London Film Festival 2015: 30 recommendations | Sight & Sound" (bằng tiếng Anh). Viện phim Anh. ngày 13 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2025.
  40. 1 2 "海街diary」が5冠、「お盆の弟」が4冠" ['Umimachi Diary' đoạt 5 giải, còn 'Obon no Brother' thắng 4 giải.] (bằng tiếng Nhật). Nikkan Sports News. ngày 5 tháng 12 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2024.
  41. ↑ "紅白歌合戦:開幕 黒柳徹子・イノッチ・綾瀬はるかの掛け声で" [Kōhaku Uta Gassen: Khai mạc bằng tiếng hô vang của Kuroyanagi Tetsuko, Inocchi và Ayase Haruka.]. Mantan Web (bằng tiếng Nhật). ngày 31 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2026.
  42. ↑ "精霊の守り人:原作者が語る"大河ファンタジー" 綾瀬はるかは「読めない役者さん」" ['Seirei no Moribito': 'Bộ taiga kỳ ảo được kể bởi tác giả nguyên tác, Ayase Haruka là một 'diễn viên khó đoán'] (bằng tiếng Nhật). MANTAN WEB. ngày 19 tháng 3 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020.
  43. ↑ "綾瀬はるか NHK新ドラマ「精霊の守り人」殺陣シーンで自慢のボディが..." [Ayase Haruka khoe thân hình kiêu hãnh ở cảnh đấu kiếm trong tác phẩm truyền hình mới 'Seirei no Moribito' của NHK]. アサ芸プラス (bằng tiếng Nhật). Tokuma Shoten [徳間書店]. ngày 12 tháng 3 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020.
  44. ↑ "綾瀬はるか、女用心棒を3年間演じて「性格が強くたくましくなりました!」" [Sau khi đóng vai nữ vệ sĩ trong ba năm, Ayase Haruka cho hay: 'Cá tính của tôi ngày một trở nên mạnh mẽ hơn']. マイナビニュース (bằng tiếng Nhật). Mainabi [マイナビ]. ngày 13 tháng 11 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2024.
  45. 1 2 "第95回ザテレビジョンドラマアカデミー賞" [Công bố giải Viện Hàn lâm Nhật Bản lần thứ 95]. The Television. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2026.
  46. ↑ ""令和最初"の『紅白』総合司会は内村光良紅組は綾瀬はるか、白組は櫻井翔" [MC chung của 'Kohaku' thời Lệnh Hòa đầu tiên là Uchimura Mitsuyoshi, Ayase Haruka dẫn đội đỏ, còn Sakurai Shō dẫn đội trắng]. Oricon News (bằng tiếng Nhật). ngày 18 tháng 10 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2024.
  47. 1 2 "東京ドラマアウォード:「俺の家の話」が連ドラGP&3冠「天国と地獄~サイコな2人~」も2冠でTBS際立つ" [Giải Tokyo Drama: 'Ore no Ie no Hanashi' thắng giải Grand Prix cho tác phẩm truyền hình hay nhất cùng ba chiến thắng nữa, kế đến là 'Tengoku to Jigoku: Psychona Futari' của TBS với hai chiến thắng]. Manta-web (bằng tiếng Nhật). ngày 27 tháng 10 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2024.
  48. ↑ "大泉洋、初共演の綾瀬はるかは「芝居は完璧なんだけど、ほどよくNGを出す、僕のせりふを...」" [Ayase Haruka trong lần đầu đóng chung với bạn diễn Oizumi Hiroshi cho biết: 'Diễn xuất rất hoàn hảo, song thoại của tôi chỉ có lượng NG vừa phải...'] (bằng tiếng Nhật). Nikkan Sports [日刊スポーツ]. ngày 2 tháng 4 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2022.
  49. 1 2 "「月」が報知映画賞の作品賞に、横浜流星・綾瀬はるか・磯村勇斗・二階堂ふみも受賞" ['Tsuki' giành giải phim hay nhất tại lễ trao giải phim Hochi, cùng các người thắng giải khác là Yokohama Ryusei, Ayase Haruka, Isomura Hayato và Nikaido Fumi]. 映画ナタリー (bằng tiếng Nhật). Natāsha [ナターシャ]. ngày 28 tháng 11 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2024.
  50. 1 2 "「エゴイスト」「月」が作品賞など最多5部門に選出 「第66回ブルーリボン賞」各部門候補決まる" ['Egoist' và 'Tsuki' tranh giải ở năm hạng mục, tính cả Phim hay nhất, các đề cử ở từng hạng mục của giải Blue Ribbon đã được chốt] (bằng tiếng Nhật). Chunichi Sports. ngày 4 tháng 1 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2024.
  51. 1 2 "『第47回 日本アカデミー賞』受賞者・作品発表 授賞式司会は羽鳥慎一、岸井ゆきの【コメント全文】" [Công bố các tác phẩm và người thắng cử tại giải Điện ảnh Viện Hàn lâm Nhật Bản, chương trình được dẫn bởi Hatori Shinichi và Kishii Yukino [Đầy đủ bình luận]] (bằng tiếng Nhật). Oricon. ngày 25 tháng 1 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2024.
  52. ↑ Garner, Glenn (ngày 13 tháng 11 năm 2025). "Neon Acquires Hirokazu Kore-eda's 'Sheep In The Box' For U.S., U.K. & Australian Distribution". Deadline Hollywood. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2025.
  53. ↑ "3月24日生まれの芸能人は、走る姿も美しい人気のベテラン女優!【今日は誰の誕生日?】" [Người nổi tiếng sinh vào ngày 24 tháng 3 là một nữ diễn viên kỳ cựu danh tiếng và có dáng chạy đẹp! [Ai có ngày sinh vào hôm nay vậy?]] (bằng tiếng Nhật). Model Press [モデルプレス]. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2024.
  54. ↑ "長澤まさみ、綾瀬はるかとの交流を語る 意外な呼び名とは?" [Nagasawa Masami chia sẻ về mối quan hệ với Ayase Haruka – Biệt danh bất ngờ là gì?]. Model Press (bằng tiếng Nhật). ngày 23 tháng 2 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2026.
  55. ↑ "広瀬すず、長澤まさみ・綾瀬はるか・夏帆ら「海街diary」4姉妹での交流明かす" [Hirose Suzu tiết lộ về sự giao lưu của bốn chị em trong 'Umimachi Diary' – gồm Nagasawa Masami, Ayase Haruka và Kaho]. Model Press (bằng tiếng Nhật). ngày 12 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2026.
  56. ↑ "中谷美紀、綾瀬はるかとの交友関係明かす「きゃっきゃして遊んでる」" [Nakatani Miki tiết lộ mối quan hệ bạn bè với Ayase Haruka: 'Tụi tôi nô đùa vui vẻ như con nít']. Model Press (bằng tiếng Nhật). ngày 30 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2026.
  57. ↑ "綾瀬はるか&韓流スター ノ・ミヌ 誕生日直前の極秘焼肉デート 1年4ヵ月前に撮っていた熱愛現場" [Ayase Haruka & Ngôi sao Hàn Quốc No Min-woo: Buổi hẹn ăn thịt nướng bí mật ngay trước sinh nhật – Hiện trường tình cảm bị chụp trước đó 1 năm 4 tháng]. Friday Digital (bằng tiếng Nhật). Kodansha. ngày 9 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2026.
  58. ↑ "『僕の彼女はサイボーグ』綾瀬はるか 単独インタビュー" [Phỏng vấn với Ayase Haruka từ phim 'Boku no Kanojo wa Saibōgu'] (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2024.
  59. ↑ "綾瀬はるかコロナ感染 26日陽性反応、自宅療養も肺炎の症状で入院 - 芸能 : 日刊スポーツ" [Haruka Ayase dương tính với corona vào ngày 26, chữa trị tại nhà song phải nhập viện với triệu chứng viêm phổi] (bằng tiếng Nhật). Nikkan Sports. ngày 31 tháng 8 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2024.
  60. 1 2 Như Anh (ngày 1 tháng 9 năm 2021). "Minh tinh Nhật trở nặng khi mắc Covid-19". VnExpress. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2024.
  61. ↑ Hải Đường (ngày 1 tháng 9 năm 2021). "Nhiều nghệ sĩ nổi tiếng Nhật Bản nhiễm COVID-19, Ayase Haruka phải nhập viện vì viêm phổi". Hoa Học Trò. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2024.
  62. ↑ "綾瀬はるか、スパイ容疑で逮捕!?" [Ayase Haruka bị bắt giữ vì tình nghi là gián điệp?] (bằng tiếng Nhật). Sankei MSN. ngày 8 tháng 11 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2024.
  63. 1 2 3 "綾瀬はるかに1億円投資トラブル発覚! 顧問税理士の"広告塔"利用に信頼回復必至" [Phát hiện khoản đầu tư rắc rối 100 triệu yên của Ayase Haruka! Niềm tin là tất yếu vì sử dụng kế toán tư vấn thuế làm 'tháp quảng cáo'] (bằng tiếng Nhật). Nikkan Gendai DIGITAL [日刊ゲンダイDIGITAL]. ngày 16 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2024.
  64. ↑ "元本保証うたい多額集金か 税理士ら4人逮捕、広島県警 出資法違反疑い【動画】" [Sở cảnh sát tỉnh Hiroshima bắt giữ bốn người, kể cả kế toán viên thuế, vì tội thu một lượng tiền lớn có bảo lãnh gốc [Video]] (bằng tiếng Nhật). China News [中国新聞]. ngày 9 tháng 11 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2023.
  65. ↑ "【紅白歌合戦ライブ】(7) かみまくり綾瀬はるか でも涙の「花は咲く」で場内感動" [[Kouhaku Uta Gassen Live] (7) Bài hát 'Hana wa Saku' rơi nước mắt của Ayase Haru làm động lòng khán giả] (bằng tiếng Nhật). Sankei News [産経ニュース]. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2024.
  66. ↑ "「綾瀬はるかのふくしまに恋して」が始まります!" [Chương trình '[Ayase Haruka] yêu lấy Fukushima' sắp lên sóng!]. Tsukuran (bằng tiếng Nhật). ngày 19 tháng 3 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 9 năm 2026. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2026.
  67. ↑ "2年ぶりに会津藩公行列 松平家中心、規模を縮小" [Lễ rước trước công chúng của tộc Aizu lần đầu tiên sau hai năm, tập trung vào gia đình Matsudaira]. Kahoku Shimpo Online News [河北新報オンラインニュース] (bằng tiếng Nhật). ngày 20 tháng 9 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2022.
  68. ↑ "綾瀬はるかさん「うれしいなし」 会津藩公行列3年ぶり例年規模で開催" [Ayase Haruka: Tôi hạnh phúc, lễ diễu hành Aizu trước công chúng được tổ chức lần đầu tiên sau ba năm, với quy mô thường niên]. Kahoku Shimpo Online News [河北新報オンラインニュース] (bằng tiếng Nhật). ngày 24 tháng 9 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2023.
  69. ↑ "綾瀬はるか 八重ふん装で「うれしいなし!」 「会津藩公行列」に特別出演" [Ayase Haruka có màn xuất hiện đặc biệt trong lốt trang phục của Yae ở các phim 'Ureshī nashi' và 'Lễ diễu hành công chúng của Aizu]. Daily Sports online [デイリースポーツ online] (bằng tiếng Nhật). 株式会社デイリースポーツ. ngày 24 tháng 9 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2022.
  70. 1 2 "綾瀬はるかさん命名、サクラ「はるか」流通拡大へ 12月に品種登録抹消" [Giống anh đào 'Haruka' do Ayase Haruka đặt tên sẽ được mở rộng phổ biến – Hủy đăng ký giống cây trồng vào tháng 12]. Fukushima Minyu (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2024. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2026.
  71. ↑ Schilling, Mark (ngày 25 tháng 1 năm 2017). "'Honnouji Hotel': Drama on the wrong side of history". The Japan Times (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2020.
  72. 1 2 CTV (ngày 25 tháng 9 năm 2022). "'Nữ thần quốc dân' Nhật Bản: Từng là cô gái gặt lúa gây sốt, giờ lột xác nóng bỏng khiến 'giáo sư đại học' si mê". Phụ nữ & Pháp luật. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2024.
  73. ↑ "Nữ diễn viên đình đám Nhật Bản sở hữu làn da căng mướt dù đã U35". Phụ Nữ Today. ngày 17 tháng 8 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2024.
  74. ↑ "第4回「恋人にしたい有名人」、綾瀬はるかが初首位" [Lần thứ 4 bảng xếp hạng 'Người nổi tiếng mà bạn muốn chọn làm người yêu': Ayase Haruka lần đầu giành vị trí số 1.]. Oricon News (bằng tiếng Nhật). ngày 17 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2026.
  75. ↑ "恋人にしたい有名人ランキング 「向井理」が初首位 「綾瀬はるか」はV2達成" [Trong bảng xếp hạng người nổi tiếng được mong muốn làm người yêu, Mukai Osamu lần đầu giành vị trí số 1, còn Ayase Haruka đạt V2 (liên tiếp lần thứ hai giữ ngôi đầu)]. Oricon News (bằng tiếng Nhật). ngày 22 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2026.
  76. ↑ "2016年 恋人にしたい女性有名人ランキング" [Bảng xếp hạng những nữ nghệ sĩ nổi tiếng mà khán giả muốn chọn làm người yêu năm 2016]. Oricon News (bằng tiếng Nhật). ngày 14 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2026.
  77. ↑ "1位は「綾瀬はるか」と「新庄剛志」!【2021年版】歯が白くて美しい・かっこいい芸能人ランキングの調査結果発表!" [Vị trí số 1 thuộc về Ayase Haruka và Shinjo Tsuyoshi! 【Bảng xếp hạng năm 2021】 Công bố kết quả khảo sát những nghệ sĩ có hàm răng trắng sáng – đẹp và nam giới phong cách!]. Sankei News (bằng tiếng Nhật). ngày 12 tháng 4 năm 2021. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2026.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  78. ↑ "石原さとみvs綾瀬はるかの美的対決に高須院長「表情美人とズバリ整形してない美人」" [Cuộc đối đầu nhan sắc giữa Ishihara Satomi vs Ayase Haruka: Viện trưởng Takasu nhận xét 'Mỹ nhân biểu cảm và mỹ nhân không hề phẫu thuật thẩm mỹ]. Shukan Josei PRIME (bằng tiếng Nhật). ngày 22 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2026.
  79. 1 2 Tiểu Nhi (ngày 28 tháng 8 năm 2023). "'Nữ thần gặt lúa' được trả lương cao nhất Nhật Bản giờ ra sao?". Đời sống & Pháp luật. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2024.
  80. ↑ Blecken, David (ngày 18 tháng 1 năm 2018). "These were Japan's most used celebrity endorsers in 2017" (bằng tiếng Anh). Campaign Asia. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2024.
  81. ↑ K., Ben (ngày 7 tháng 6 năm 2019). "Coca-Cola Japan kicks off first summer of Reiwa with Coca-Cola Clear Lime" (bằng tiếng Anh). Japan Today. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2024.
  82. ↑ Fernandez, Annabelle (ngày 11 tháng 11 năm 2019). "Watch Behati Prinsloo Levine, Haruka Ayase, And Leah Dou Give The SK-II Story A New Spin" (bằng tiếng Anh). Harper's Bazaar Singapore. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2024.
  83. ↑ Green, Scott (ngày 29 tháng 5 năm 2012). "Haruka Ayase Cosplays as KFC's Colonel Sanders for Press Event". Crunchyroll (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2024.
  84. ↑ "Ayase Haruka" (bằng tiếng Anh). Uniqlo. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2026.
  85. ↑ "Ayase Haruka - Period". jvcmusic.co (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2024.
  86. ↑ "エランドール賞歴代受賞者一覧" [Danh sách người thắng giải Elan d'or] (bằng tiếng Nhật). Hiệp hội nhà sản xuất Nippon. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2024.
  87. ↑ "第21回日刊スポーツ映画大賞』主演男優賞をSMAP・中居正広、主演女優賞を綾瀬はるかが受賞" [Giải điện ảnh Nikkan Sports lần thứ 21: Nakai Masahiro của SMAP giành giải nam diễn viên chính xuất sắc nhất, còn Ayase Haruka đoạt giải nữ diễn viên chính xuất sắc nhất] (bằng tiếng Nhật). Oricon News. ngày 28 tháng 12 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2024.
  88. ↑ "ドラマ『JIN-仁-』が『橋田賞』受賞 共演の大沢&綾瀬も個人賞に輝く" [Phim truyền hình Jin giành 'giải Hashida', còn Osawa và Ayase cũng đoạt giải cá nhân] (bằng tiếng Nhật). Oricon News. ngày 10 tháng 5 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2015.
  89. ↑ "酒の飲みすぎで痛風になった」鶴瓶、三國連太郎から「2時間毎日歩きなさい」" [Tsurube: 'Tôi bị gút do uống quá nhiều rượu', chế độ 'đi bộ hai giờ mỗi ngày' của Mikuni Rentaro] (bằng tiếng Nhật). Oricon News. ngày 16 tháng 2 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2024.
  90. ↑ "綾瀬はるか「取ったどぉ~」ドラマGP主演女優賞" [Giải nữ diễn viên chính xuất sắc nhất thuộc về Ayase Haruka với tác phẩm 'Tottadoo'] (bằng tiếng Nhật). Nikkan Sports News. ngày 4 tháng 5 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2024.
  91. ↑ "綾瀬はるか「獲ったどぉ〜」主演女優賞/映画大賞" [Ayase Haruka: 'Got it!' – Giải Nữ diễn viên chính xuất sắc - hạng mục điện ảnh]. Nikkan Sports (bằng tiếng Nhật). ngày 8 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2026.
  92. ↑ "毎日映画コンクール 大賞に橋口監督の「恋人たち」" ['Koibito-tachi' của đạo diễn Hashiguchi thắng giải lớn] (bằng tiếng Nhật). Mainichi Shimbun. ngày 21 tháng 1 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2024.
  93. ↑ "日本アカデミー賞優秀賞発表『海街diary』が最多12部門受賞" [Công bố giải thưởng Viện Hàn lâm Nhật Bản: 'Umimachi Diary' giành nhiều chiến thắng nhất ở 12 hạng mục] (bằng tiếng Nhật). Oricon. ngày 18 tháng 1 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2016.
  94. ↑ "10th AFA Nominees and Winners" (bằng tiếng Anh). Giải thưởng điện ảnh châu Á. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2024.
  95. ↑ "綾瀬はるか「義母と娘の-」ドラマGP主演女優賞" [Ayase Haruka trong phim 'Gibo to Musume no Blues' giành giải GP cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất] (bằng tiếng Nhật). Nikkan Sports. ngày 30 tháng 4 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2024.
  96. ↑ "2020年度ドラマGP年間大賞発表" [Công bố giải Grand Prize - GP thường niên năm 2020] (bằng tiếng Nhật). Nikkan Sports. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2024.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]