Bước tới nội dung

Mộc Anh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Mộc Anh
沐英
Chư hầu Trung Hoa
Image
Chân dung
Tây Bình hầu
Trị vì1377–1392
Tiền nhiệmKhông có
Kế nhiệmMộc Xuân
Thông tin chung
Sinh1345
Định Viễn, An Huy, Trung Quốc
Mất1392
Văn Nam, nhà Minh
Phối ngẫuPhùng thị, Cảnh thị, Phương thị, Nhan thị
Hậu duệMộc Xuân, Mộc Thạnh, Mộc Ngang, Mộc Sưởng, Mộc Hân
Tên thật
Mộc Anh (沐英)
Tên tự
Văn Anh (文英)
Thụy hiệu
Kiềm Ninh Chiêu Tịnh vương (黔寧昭靖王)
Tước hiệuTây Bình hầu (西平侯)
Thân phụMộc Siêu (cha ruột)
Chu Nguyên Chương (cha nuôi)
Thân mẫuCố thị (mẹ ruột)
Mã Hoàng hậu (mẹ nuôi)

Mộc Anh (沐英; 1345- 1392) là một võ tướng, khai quốc công thần nhà Minh. Ông được Chu Nguyên Chương và Mã hoàng hậu nhận làm con nuôi, từng mang họ Chu trước khi trở lại họ Mộc. Được phong Tây Bình hầu năm 1377, ông tham gia cuộc chinh phục Vân Nam cùng Phó Hữu Đức và Lam Ngọc, rồi ở lại trấn giữ vùng này; sau khi mất được truy phong Kiềm Ninh vương, thụy Chiêu Tịnh.[1]

Cuộc đời

[sửa | sửa mã nguồn]

Mộc Anh, tự Văn Anh, người huyện Định Viễn, vùng Hoài Nam (nay thuộc An Huy). Cha mẹ mất sớm, năm 8 tuổi được Chu Nguyên Chương nhận làm con nuôi.[2]

Theo Minh sử, cha ông mất trước; ông theo mẹ lánh nạn chiến tranh, rồi mẹ cũng qua đời. Chu Nguyên Chương và Mã hoàng hậu nuôi ông, cho mang họ Chu. Trong những năm đầu khởi nghiệp, Chu Nguyên Chương từng nhận hơn hai mươi người khác họ làm con và cử họ trấn thủ những thành đã chiếm được; bản truyện của Mộc Anh nhấn mạnh công lao của ông ở vùng tây nam trong số những người con nuôi này.[1]

Năm 1362, khi 18 tuổi, Mộc Anh được phong Trướng tiền đô úy và đóng quân tại Trấn Giang. Sau đó, ông thăng Chỉ huy sứ, chuyển đến Quảng Tín.[1]

Trong chiến dịch Phúc Kiến, Mộc Anh theo quân vượt cửa ải Phân Thủy, chiếm Sùng An, hạ mười tám trại ở Mân Khê và bắt Phùng Cốc Bảo. Sau chiến dịch này, ông được lệnh trở lại họ Mộc. Ông chuyển sang trấn thủ Kiến Ninh, thống lĩnh ba vệ Thiệu Vũ, Diên Bình và Đinh Châu, rồi được bổ làm Thiêm sự Đại đô đốc phủ, thăng Đồng tri. Minh sử ghi nhận khả năng giải quyết công việc quân sự của ông tại phủ và sự tin cậy mà vợ chồng Chu Nguyên Chương dành cho ông.[1]

Năm 1376, Mộc Anh được giao xem xét tình hình dân chúng ở Quan–Thiểm và Hi Hà, xử lý những việc bất tiện rồi báo về triều đình. Sang năm 1377, ông giữ chức Chinh tây phó tướng quân dưới quyền Đặng Dũ. Sau chiến công, ông được phong Tây Bình hầu, hưởng bổng lộc 2.500 thạch và được cấp bằng cho phép con cháu thế tập tước vị.[1]

Năm 1378, ông được bổ làm Chinh tây tướng quân, đánh các lực lượng Tây Phiên ở Thổ Môn Hiệp, tiến đến Thao Châu và bắt thủ lĩnh A Xương Thất Nạp. Ông cho xây thành tại Đông Lung Sơn, tiếp tục đánh các bộ lạc và trạm dịch thuộc Đóa Cam. Theo số liệu do Minh sử chép, cuộc tiến quân bắt khoảng hai vạn người cùng hơn hai mươi vạn gia súc trước khi rút về.[1]

Năm 1380, Mộc Anh chỉ huy quân Thiểm Tây xuất phát qua Diệc Tập Nãi, vượt Hoàng Hà và núi Hạ Lan để đánh lực lượng nhà Nguyên của Thoát Hỏa Xích. Ông chia quân thành bốn cánh đánh ban đêm, tự dẫn kỵ binh xung kích vào trung quân đối phương, bắt Thoát Hỏa Xích cùng Ái Túc. Năm sau, trước khi chuyển sang chiến trường Vân Nam, ông còn tham gia một cuộc bắc chinh, tiến qua Công Chúa Sơn, đánh các bộ ở Toàn Ninh, vượt sông Lư Cù và bắt Lý Tuyên.[1]

Chinh phục Vân Nam

[sửa | sửa mã nguồn]

Trong cuộc tiến quân vào Vân Nam, Mộc Anh giữ chức Chinh nam hữu phó tướng quân. Tại Khúc Tĩnh, quân Minh đối đầu với lực lượng của Đạt Lý Ma, tướng thuộc Lương vương nhà Nguyên. Minh sử thuật rằng Mộc Anh đưa quân đến Bạch Thạch Giang trong sương mù; khi Phó Hữu Đức định vượt sông ngay, ông đề nghị thận trọng vì quân đã mệt và có thể bị chặn đánh. Quân Minh bày trận nghi binh ở bờ sông, đồng thời cho một cánh quân vượt phía hạ lưu, xuất hiện sau trận địa đối phương với cờ và tù và. Khi quân Nguyên rối loạn, Mộc Anh thúc quân vượt sông, sau đó tung kỵ binh vào trận và bắt Đạt Lý Ma. Lương vương bỏ chạy rồi chết, còn Quan Âm Bảo nộp thành Vân Nam.[1]

Ở Đại Lý, lực lượng họ Đoàn dựa vào núi Điểm Thương, Nhĩ Hải và hai cửa ải Long Thủ, Long Vĩ để phòng thủ. Mộc Anh tiến đến Hạ Quan, cho Vương Bật đi phía đông Nhĩ Hải lên Thượng Quan, còn Hồ Hải theo đường tắt qua Thạch Môn và lên núi Điểm Thương. Quân ở trên núi phối hợp với lực lượng của Mộc Anh từ dưới đánh vào, chiếm Đại Lý và bắt người đứng đầu họ Đoàn. Sau đó, quân Minh chia đi thu phục các địa phương chưa quy thuận, đặt quan và lập vệ để đóng giữ.[1]

Mộc Anh trở lại hội quân với Phó Hữu Đức tại Điền Trì, rồi tiếp tục hoạt động quân sự ở Ô Tát, Đông Xuyên, Kiến Xương và Mang Bộ. Khi thủ lĩnh họ Dương (楊苴) cùng các lực lượng địa phương vây thành Vân Nam, ông đem quân về giải vây và truy kích. Minh sử ghi cuộc đàn áp này có tới sáu vạn người bị chém; đây là con số trong ghi chép của triều đình về chiến thắng.[1] Năm 1383, Phó Hữu Đức và Lam Ngọc trở về kinh, còn Mộc Anh ở lại giữ Vân Nam.[3]

Củng cố biên phòng và trận Định Biên

[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1384, ông đánh lực lượng chống Minh ở Diệc Tá thuộc Khúc Tĩnh, tiếp tục tiến quân tại Phổ Định, Quảng Nam và mở đường vận chuyển lương thực qua Điền Châu. Năm 1387, sau khi đánh Lãng Khung, ông nhận lệnh lập đồn dọc tuyến Vĩnh Ninh–Đại Lý, cứ sáu mươi lý đặt một đồn và để quân ở lại làm đồn điền.[1]

Tại vùng biên giới phía tây nam, Tư Luân Phát, người đứng đầu Lộc Xuyên–Bình Miến, đã được triều Minh công nhận chức tuyên úy sứ nhưng tiếp tục xung đột với các địa phương thuộc quyền Minh. Năm 1387, triều đình lệnh cho Mộc Anh củng cố doanh lũy ở Kim Xỉ, Sở Hùng, Phẩm Điện và dọc tuyến Lan Thương, bố trí thêm hỏa khí và tránh khinh suất giao chiến. Năm 1388, khi lực lượng của Tư Luân Phát tiến vào trại Ma Sa Lặc, Mộc Anh sai Ninh Chính đánh lui.[4]

Sau đó, quân Lộc Xuyên tiến đánh Định Biên với một lực lượng lớn có voi chiến. Theo Minh sử, Mộc Anh đưa ba vạn quân đến ứng cứu; đối phương được ghi là có ba mươi vạn người và hơn một trăm con voi. Trong lần giao chiến đầu, quân Minh bắn vào đội hình voi. Sang hôm sau, Mộc Anh tăng cường hỏa thương và “thần cơ tiễn”, cho các toán lần lượt khai hỏa, khiến voi quay chạy và đội hình Lộc Xuyên tan vỡ. Quân Minh tiến vào trại đối phương; Tư Luân Phát rút lui. Quyển 314 chép hơn ba vạn người bị giết, hơn một vạn đầu hàng và ba mươi bảy voi bị bắt sống.[4] Nghiên cứu của Jon Fernquest đặt trận đánh vào năm 1388, dựa trên mục ghi ngày 6 tháng 5 năm ấy trong Minh thực lục.[3]

Nhà nghiên cứu Barend Noordam xem cách quân Minh dùng hỏa khí tại Định Biên là một ghi chép sớm về ba hàng quân lần lượt khai hỏa. Ông lưu ý rằng chưa có bằng chứng các hàng thay phiên nạp đạn để duy trì hỏa lực liên tục, nên không thể coi đây là kỹ thuật bắn loạt luân phiên hoàn chỉnh về sau.[5]

Sau thắng lợi, triều đình yêu cầu Mộc Anh tiến đến Cảnh Đông, dựng đồn lũy và tổ chức đồn điền để bảo đảm hậu cần, đồng thời chưa vội chấp nhận lời xin hàng. Năm 1389, Tư Luân Phát cử sứ xin quy phục; triều Minh sai Dương Đại Dụng tới yêu cầu thực hiện nghĩa vụ triều cống và bồi hoàn chi phí quân sự.[4]

Chính sách tại Vân Nam

[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài các chiến dịch quân sự, Mộc Anh tổ chức đồn điền, lựa chọn quan cai trị địa phương và khuyến khích sản xuất nông nghiệp. Theo Minh sử, hàng năm ông lấy sự tăng giảm diện tích đồn điền làm căn cứ thưởng phạt; diện tích khai khẩn đạt hơn một triệu mẫu. Ông còn cho nạo vét, khơi rộng dòng thoát nước ở Điền Trì nhằm hạn chế ngập lụt, khai thác nguồn lợi từ các giếng muối để thu hút thương nhân, căn cứ sản vật địa phương mà định cống thuế và dựa vào số dân để phân bổ lao dịch.[1]

Việc duy trì quân đồn trú gắn chặt với nguồn lương thực. Fernquest lưu ý rằng sau cuộc chinh phục, các đơn vị đóng tại Vân Nam làm tăng nhu cầu lương thực, còn việc đổi muối lấy gạo của thương nhân là một phương thức giúp cung ứng cho quân đội tại Kim Xỉ.[3]

Minh sử cũng mô tả ông là người ít nói, trọng người có học và thường đọc sách; những lúc rảnh, ông mời nho sinh tới giảng bàn kinh sử. Các nhận xét này nằm trong phần tổng kết mang tính biểu dương của bản truyện, cùng với đánh giá về khả năng quản lý và công lao của ông tại Vân Nam.[1]

Bản truyện trong Quốc triều hiến trưng lục kể rằng sau khi được một nho sinh giới thiệu, Mộc Anh đọc Đại học diễn nghĩa và mời người giảng giải, đồng thời đọc Thông giám cương mục. Tại Vân Nam, ông cho chọn con em có tư chất trong dân và con các thổ quan vào học; vào dịp tế Khổng Tử, ông mời thầy trò tới dự và cấp áo theo mùa cho con em thổ quan. Bản truyện còn ghi việc ông cho khắc Thái cực đồ và học quy Bạch Lộc Động ở Văn miếu.[2]

Qua đời

[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1392, tin Thái tử Chu Tiêu mất khiến Mộc Anh đau buồn. Trước đó, khi Mã Hoàng hậu qua đời, ông đã khóc và nôn ra máu. Mộc Anh mất tại Vân Nam cùng năm; triều đình truy phong ông làm Kiềm Ninh Vương (黔寧王), ban thụy Chiêu Tịnh (昭靖) và cho phụ thờ Thái miếu. Con cháu được thế tập trấn thủ Vân Nam đến khi nhà Minh mất.[1]

Linh cữu của ông được đưa về kinh đô an táng. Sau Mộc Anh, Mộc Xuân kế tước Tây Bình hầu và tiếp tục trấn giữ Vân Nam. Mộc Xuân mất không có con, em là Mộc Thạnh nối tước; Mộc Thạnh về sau được phong Kiềm quốc công do công trong cuộc chiến ở Đại Việt. Khi Mộc Thạnh mất, con là Mộc Bân còn nhỏ và ở kinh đô, nên Mộc Ngang được cử thay nắm việc trấn thủ. Như vậy, việc truyền tước và việc trực tiếp chỉ huy quân sự tại Vân Nam không phải lúc nào cũng do cùng một người đảm nhiệm.[1]

Ngoài những người con giữ chức vụ ở Vân Nam, Mộc Hân còn được bổ làm phò mã đô úy, kết hôn với Thường Ninh công chúa, con gái Minh Thành Tổ.[1]

Gia quyến

[sửa | sửa mã nguồn]

Thê thiếp

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Nguyên phối Phùng thị (馮氏), mất sớm; theo mộ chí Cảnh thị do Dương Vinh soạn, bà là mẹ của Mộc Xuân.[7]
  • Kế phối Cảnh thị (耿氏, 1344 - 1431)
Theo mộ chí do Dương Vinh soạn, Cảnh thị là con gái Cảnh Tái Thành, người được truy phong Tứ quốc công, và Bào thị. Bà lo việc gia đình trong thời gian Mộc Anh cầm quân ở ngoài, mất vào tháng 11 năm Tuyên Đức thứ sáu (1431), thọ 87 tuổi theo cách tính của văn bia.[7]
  • Trắc thất Phương thị (方氏, 1357–1439), con gái Phương Phục Sơ (方復初), sinh Mộc Ngang; được gọi là Bảo Sinh phu nhân.
  • Trắc thất Nhan thị (顏氏, ? - 1448), sinh Mộc Hân, được phong Cáo mệnh Nhất phẩm Phu nhân.
  • Thứ thất Lưu thị (劉氏), vốn là thiếp của ông khi còn ở Trấn Giang, qua đời tại Vân Nam, không con.
  • Thứ thất Hà thị (何氏), người Vân Nam, được nạp làm thiếp khi ông được cử trấn giữ tại đây.
  • Thị thiếp Hồ thị (胡氏), sinh một con gái không rõ tên.
  1. Tây Bình Huệ Tương hầu Mộc Xuân (西平惠襄侯 沐春, 1363 - 1399 [cần dẫn nguồn]). Vợ là phu nhân Vương thị (王氏), không con.
  2. Định Viễn Trung Kính vương Mộc Thạnh (定遠忠敬王 沐晟)
  3. Định Biên Vũ Tương bá Mộc Ngang (定邊武襄伯 沐昂, 1378 - 1445), mẹ là Phương thị.
  4. Mộc Sưởng (沐昶), chết yểu.
  5. Mộc Hân (沐昕), mẹ là Nhan thị. Được phong Phò mã Đô úy, vợ là Thường Ninh Công chúa (常寧公主), con gái của Minh Thành Tổ.

Mộ chí Cảnh thị liệt kê năm người con trai của Mộc Anh: Mộc Xuân, Mộc Thạnh, Mộc Ngang, Mộc Sưởng và Mộc Hân; trong đó Mộc Sưởng mất sớm. Văn bia còn kể bốn người con gái theo thứ tự: người trưởng gả cho chỉ huy Đái Ngọc (戴玉), người thứ hai gả cho Từ Tăng Thọ (徐增壽), người thứ ba gả cho chỉ huy vệ Doanh Châu Tôn Nghị (孫毅), người thứ tư gả cho chỉ huy vệ Sóc Châu Chu Trung (周忠).[8]

Về thế hệ sau, mộ chí cũng ghi các cháu gái của gia đình kết hôn với Thọ Xương vương, Triệu vương, Thành quốc công Chu Dũng và Hữu đô đốc Trần Chính; một người được hứa gả cho Vũ Định hầu Quách Huyễn. Những mối hôn nhân này được ghi cùng danh sách con cháu trong phần cuối văn bia.[8]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 Trương Đình Ngọc và cộng sự, Minh sử, quyển 126, Liệt truyện 14, mục “沐英” (Mộc Anh).
  2. 1 2 Tiêu Hoành, Quốc triều hiến trưng lục (國朝獻徵錄), quyển 5, mục “黔國公沐英傳”.
  3. 1 2 3 Fernquest, Jon (2006). "Crucible of War: Burma and the Ming in the Tai Frontier Zone (1382–1454)" (PDF). SOAS Bulletin of Burma Research (bằng tiếng Anh). Quyển 4 số 2. tr. 38–44.
  4. 1 2 3 Trương Đình Ngọc và cộng sự, Minh sử, quyển 314, Liệt truyện 202, mục “麓川 平緬” (Lộc Xuyên–Bình Miến).
  5. ↑ Noordam, Barend (2023). "Chinese Volley Fire and Metanarratives of World History". Journal of World History (bằng tiếng Anh). Quyển 34 số 3. tr. 329–368. doi:10.1353/jwh.2023.a902024. Bản thảo công khai tại kho UAB, mục “Harnessing the Gun: A Tradition of Trial and Error”, đoạn về năm 1388.
  6. 1 2 Tiêu Hoành, Quốc triều hiến trưng lục (國朝獻徵錄), quyển 5, mục “黔國公沐英傳”, ghi “父諱超母顧氏”.
  7. 1 2 Dương Vinh, Dương Văn Mẫn tập (楊文敏集), bản Tứ khố toàn thư, quyển 21, “黔寧昭靖王夫人耿氏墓誌銘” (Mộ chí phu nhân Cảnh thị của Kiềm Ninh Chiêu Tịnh vương).
  8. 1 2 Dương Vinh, Dương Văn Mẫn tập (楊文敏集), bản Tứ khố toàn thư, quyển 21, “黔寧昭靖王夫人耿氏墓誌銘” (Mộ chí phu nhân Cảnh thị của Kiềm Ninh Chiêu Tịnh vương).

https://dich-truyen-trung-hoa.fandom.com/vi/wiki/Minh_s%E1%BB%AD_li%E1%BB%87t_truy%E1%BB%87n_%C4%91%E1%BB%87_14[liên kết hỏng]