Bước tới nội dung

S-75 Dvina

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
S-75 Desna / V-750
SA-2 Guideline, SA-N-2 Guideline
Image
S-75 Dvina tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Quốc gia, Sofia, Bulgaria
LoạiHệ thống SAM chiến lược
Nơi chế tạoLiên Xô
Lược sử hoạt động
Phục vụ1957–nay
Sử dụng bởiXem danh sách các quốc gia đã và đang vận hành
Trận
Lược sử chế tạo
Người thiết kếRaspletin KB-1 (nhà phát triển chính),

Grushin MKB Fakel (nhà phát triển tên lửa),

Lavochkin OKB
Năm thiết kế1953–1957
Giai đoạn sản xuất1957
Số lượng chế tạoKhoảng 4.600 bệ phóng đã được sản xuất[1]
Các biến thểSA-75 Dvina, S-75 Desna, S-75M Volkhov/Volga
Thông số (V-750[2])
Khối lượng2.300 kg (5.100 lb)
Chiều dài10.600 mm (34 ft 9 in)
Đường kính700 mm (28 in)
Đầu nổNổ mạnh phá mảnh (Frag-HE)
Trọng lượng đầu nổ195 kg (430 lb)[2]
Cơ cấu nổĐiều khiển

Chất nổ đẩy đạnĐộng cơ khởi tốc nhiên liệu rắn và tầng trên nhiên liệu lỏng có thể lưu trữ
Tầm hoạt động45 km (28 mi)
Độ cao bay25,000 m (82,021 ft)
Thời gian đạt vận tốc tối đa5 giây khởi tốc, sau đó là 20 giây duy trì
Tốc độMach 3,5 (4.300 km/h; 2.700 mph)
Hệ thống chỉ đạoĐiều khiển vô tuyến bằng lệnh
Độ chính xác65 m (210 ft)
Nền phóngĐường ray đơn, cố định trên mặt đất (không cơ động)

S-75 (tên tiếng Nga: С-75; tên ký hiệu của NATOSA-2 Guideline) là một hệ thống phòng không tầm cao do Liên Xô thiết kế. Hệ thống này được xây dựng xoay quanh một loại tên lửa đất đối không sử dụng phương thức dẫn đường bằng lệnh. Sau khi được triển khai lần đầu tiên vào năm 1957, nó đã trở thành một trong những hệ thống phòng không được triển khai rộng rãi nhất trong lịch sử. Nó đã ghi dấu chiến công đầu tiên trong việc tiêu diệt một máy bay đối phương bằng tên lửa đất đối không, với việc bắn hạ một chiếc Martin RB-57D Canberra của Đài Loan trên bầu trời Trung Quốc vào ngày 7 tháng 10 năm 1959; chiếc máy bay này đã bị trúng một loạt phóng gồm ba tên lửa V-750 (1D) ở độ cao 20 km (66.000 ft).[3] Thành công này ban đầu được ghi công cho các máy bay tiêm kích của Trung Quốc vào thời điểm đó nhằm giữ bí mật cho chương trình S-75.[4]

Hệ thống này lần đầu tiên giành được sự nổi tiếng quốc tế khi một đơn vị S-75, sử dụng loại tên lửa V-750VN (13D) mới hơn, có tầm bắn xa hơn và độ cao lớn hơn, đã được triển khai trong Sự cố máy bay U-2 năm 1960, khi nó bắn hạ chiếc U-2 của Francis Gary Powers đang bay qua Liên Xô vào ngày 1 tháng 5 năm 1960.[5] Hệ thống này cũng được triển khai tại Cuba trong Khủng hoảng tên lửa Cuba, khi nó bắn hạ một chiếc U-2 khác (do Rudolf Anderson điều khiển) đang bay qua Cuba vào ngày 27 tháng 10 năm 1962, suýt chút nữa đã dẫn đến một cuộc chiến tranh hạt nhân.[6] Các lực lượng miền Bắc Việt Nam đã sử dụng S-75 rộng rãi trong Chiến tranh Việt Nam để bảo vệ Hà Nội và Hải phòng chống lại các đợt ném bom của Mỹ với kết quả khá thành công. Nó được sản xuất tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa dưới các tên gọi HQ-1 (theo giấy phép) và HQ-2 (biến thể sửa đổi, tên định danh FT-2000A). Các kỹ sư Ai Cập cũng đã sản xuất một phiên bản đảo ngược thiết kế của S-75 với tên gọi Tayir-as-Sabah.[7]

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Quá trình hình thành

[sửa | sửa mã nguồn]

Vào đầu thập niên 1950, Không quân Hoa Kỳ (USAF) đã đẩy nhanh việc phát triển các máy bay ném bom phản lực tầm xa mang vũ khí hạt nhân, điển hình là Boeing B-47 Stratojet và sau đó là Boeing B-52 Stratofortress. Tầm xa, tốc độ và hỏa lực của các máy bay này tạo ra mối đe dọa hiện hữu đối với Liên Xô.

Trong khi đó, hệ thống tên lửa phòng không cố định S-25 Berkut của Liên Xô đang đi vào giai đoạn hoàn tất vào năm 1953. Tuy nhiên, giới lãnh đạo quân sự nhận thấy rằng chỉ dựa vào các hệ thống cố định sẽ không đảm bảo khả năng bảo vệ linh hoạt với chi phí chấp nhận được, đặc biệt là khi quan hệ ngoại giao có biến động như sự kiện quan hệ Xô - Trung xấu đi. Việc phát triển một hệ thống cơ động sẽ cho phép thực hiện các nhiệm vụ chiến thuật mới như thay đổi vị trí để tránh đòn tấn công, tác chiến phục kích và triển khai dự phòng nhanh chóng.[8]

Vào ngày 20 tháng 11 năm 1953, Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô ban hành Nghị định số 2838/1201 "Về việc tạo ra hệ thống vũ khí tên lửa phòng không điều khiển di động". Đơn vị phát triển chính là OKB-1 dưới sự chỉ đạo của tổng công trình sư A. A. Raspletin[9]. Việc thiết kế tên lửa được giao cho OKB-2 dưới quyền Pyotr Grushin[10]. Chương trình tập trung vào việc tạo ra một loại tên lửa có thể hạ gục các máy bay lớn, không cơ động ở độ cao lớn, có khả năng chống lại các biện pháp gây nhiễu của đối phương.

Nhằm tối ưu chi phí và trọng lượng, hệ thống được thiết kế để tận dụng tối đa các loại xe tải và xe kéo sẵn có. S-75 thừa hưởng nguyên lý dẫn đường từ S-25 nhưng cải tiến mạnh mẽ: các ăng-ten xoay cồng kềnh được thay thế bằng hệ thống quét điện tử nhỏ gọn, và sử dụng động cơ khởi tốc nhiên liệu rắn cho phép phóng nghiêng từ bệ phóng quay.[11] Quá trình phát triển diễn ra thần tốc và năm 1957, thế giới lần đầu biết đến S-75 khi nó xuất hiện trong cuộc diễu binh 1 tháng 5 tại Moscow.

Triển khai trang bị

[sửa | sửa mã nguồn]

Việc triển khai quy mô lớn bắt đầu từ năm 1957. S-75 đã thay thế các loại pháo cao xạ tầm cao cũ kỹ từ thời Thế chiến II như pháo 130 mm (5,1 in) KS-30100 mm (3,9 in) KS-19. Giữa năm 1958 và 1964, tình báo Hoa Kỳ đã phát hiện hơn 600 trận địa S-75 trên khắp lãnh thổ Liên Xô, tập trung xung quanh các trung tâm dân cư và khu phức hợp công nghiệp.

S-75 ghi dấu chiến công đầu tiên trong việc tiêu diệt máy bay đối phương bằng tên lửa đất đối không khi bắn hạ một chiếc Martin RB-57D Canberra của Đài Loan trên bầu trời Trung Quốc vào ngày 7 tháng 10 năm 1959 ở độ cao 20 km (66.000 ft).[12][13] Năm 1962, Không quân Đài Loan được Mỹ chuyển giao U-2 để do thám Trung Quốc và chiếc U-2 đầu tiên của Đài Loan bị Trung Quốc bắn rơi ngày 9/9/1962. Có ít nhất 11 chiếc U-2 của Đài Loan bị bắn hạ trong giai đoạn từ năm 1962 đến 1970, đa số đều bị SAM-2 bắn rơi.[14]

Hệ thống này giành được sự nổi tiếng quốc tế khi một đơn vị S-75 bắn hạ chiếc U-2 của Francis Gary Powers đang bay qua Liên Xô vào ngày 1 tháng 5 năm 1960.[5] Tiếp đó, trong Khủng hoảng tên lửa Cuba, nó đã bắn hạ một chiếc U-2 khác do Rudolf Anderson điều khiển vào ngày 27 tháng 10 năm 1962.[6]

Ngoài Liên Xô, hệ thống này được cung cấp cho hầu hết các quốc gia khối Warszawa, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, và miền Bắc Việt Nam.[7] Tại Việt Nam, S-75 đã được sử dụng rộng rãi để bảo vệ Hà Nội và Hải Phòng chống lại các đợt ném bom của Mỹ với kết quả rất thành công.

Vào năm 1965, Bắc Việt Nam đã yêu cầu hỗ trợ để chống lại lực lượng không quân Mỹ, do hệ thống phòng không của chính họ lúc bấy giờ thiếu khả năng bắn hạ máy bay bay ở độ cao lớn. Sau một số cuộc thảo luận, Liên Xô đã đồng ý cung cấp S-75 cho Quân đội Nhân dân Việt Nam. Quyết định này không hề dễ dàng, bởi nó làm tăng đáng kể khả năng một hệ thống sẽ rơi vào tay Mỹ để nghiên cứu. Công tác chuẩn bị trận địa bắt đầu từ đầu năm và Mỹ đã phát hiện ra chương trình này gần như ngay lập tức vào ngày 5 tháng 4 năm 1965.

Image
Hệ thống S-75 của Ai Cập năm 1985
Image
S-75 Dvina của Ai Cập tại Bảo tàng Quân sự Quốc gia Ai Cập

Vào ngày 24 tháng 7 năm 1965, một máy bay F-4C của USAF đã bị bắn hạ bởi một quả S-75[15] phóng bởi Trung đoàn tên lửa 236.[16] Ba ngày sau, Mỹ đáp trả bằng Chiến dịch Iron Hand để tấn công các trận địa khác trước khi chúng kịp đi vào hoạt động. Hầu hết các tổ hợp S-75 được triển khai quanh khu vực Hà Nội-Hải Phòng và bị hạn chế tấn công (cũng như các sân bay địa phương) vì các lý do chính trị.

Vào ngày 8 tháng 9 năm 1965, trong Chiến tranh Ấn Độ - Pakistan năm 1965, một quả S-75 Dvina của Ấn Độ đã được phóng vào một mục tiêu không xác định được tin là đang thực hiện nhiệm vụ ban đêm phía trên Ghaziabad gần Delhi. Các báo cáo tin tức sau đó tuyên bố đã tiêu diệt một chiếc C-130 của Pakistan, đưa ra bức ảnh về mảnh vỡ của quả tên lửa tự hủy làm bằng chứng cho mảnh vỡ máy bay. Tuy nhiên, theo các nguồn tin Ấn Độ, không có máy bay Pakistan nào xâm nhập sâu như vậy vào lãnh thổ Ấn Độ.[17]

Hệ thống tên lửa này được sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới, đặc biệt là ở Trung Đông, nơi Ai Cập và Syria đã sử dụng chúng để chống lại Không quân Israel, với mạng lưới phòng không này chịu trách nhiệm cho phần lớn số máy bay Israel bị bắn rơi. Thành công cuối cùng dường như xảy ra trong Chiến tranh Abkhazia (1992–1993), khi các tên lửa của Georgia bắn hạ một máy bay tiêm kích Sukhoi Su-27 của Nga gần Gudauta vào ngày 19 tháng 3 năm 1993.[18]

Trong Cuộc vây hãm Bihac thuộc Chiến tranh Bosnia (1992-1995), lực lượng Serb từ Krajina đã phóng ít nhất ba quả S-75 ở chế độ đất đối đất vào thành phố Cazin của Bosnia.[19] Trong Nội chiến Yemen (2014–nay), Houthi đã sửa đổi một số tên lửa S-75 của họ thành Tên lửa đạn đạo đất đối đất để tấn công các căn cứ của Ả Rập Xê Út.[20]

Tham chiến tại Việt Nam

[sửa | sửa mã nguồn]
Hệ thống tên lửa phòng không S-75
Một bệ phóng tên lửa và trạm radar điều khiển hỏa lực được trưng bày tại Bảo tàng Quân chủng Phòng không - Không quân Việt Nam.
Image
Một chiếc F-105D bị trúng tên lửa S-75

Từ năm 1964 đến đầu năm 1965, người Việt Nam chưa có gì để đe dọa các phi công Mỹ trên không. Máy bay Mỹ thường bay ở độ cao 4 đến 5 kilômét (13.000 đến 16.000 ft), và các loại pháo cao xạ của Việt Nam không thể vươn tới. Tuy nhiên, sau khi một chiếc F-4 Phantom bị S-75 bắn hạ, các máy bay ném bom Mỹ bắt đầu hạ độ cao xuống dưới 3 kilômét (10.000 ft), thấp hơn độ cao hoạt động tối thiểu của Dvina. Điều này vô tình đưa chúng vào tầm bắn của pháo cao xạ Việt Nam.[21]

Image
Các cố vấn quân sự Liên Xô tại một căn cứ huấn luyện cho Bộ đội tên lửa phòng không Việt Nam sử dụng S-75 trong thời kỳ chống chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ (1965-1972)

Cuối năm 1964, các chuyên gia thuộc Tổng cục Pháo binh Liên Xô đã đến Việt Nam nhằm khảo sát các tuyến đường vận chuyển, đánh giá địa điểm huấn luyện và triển khai.[22] Đến tháng 2 năm 1965,[23] đã có hai đoàn chuyên gia huấn luyện tên lửa đến Việt Nam để thành lập các trung tâm huấn luyện, lần lượt bởi nhân sự của Quân khu Phòng không Baku và Quân khu Phòng không Moskva phụ trách.[24]

Vào ngày 24 tháng 7 năm 1965, bốn chiếc F-4C Phantom của Không quân Mỹ đã tham gia một cuộc không kích vào kho chứa đạn dược Điện Biên Phủ và nhà máy đạn Lang Chi phía tây Hà Nội. Một chiếc bị bắn rơi và ba chiếc bị hư hại bởi S-75. Đây là lần đầu tiên máy bay Mỹ bị tấn công bởi tên lửa đất đối không (SAM) trong Chiến tranh Việt Nam.[25]

Hai ngày sau, Tổng thống Johnson ra lệnh tấn công các vị trí S-75 đã biết bên ngoài vùng cấm 48 kilômét (30 mi). Vào sáng ngày 27 tháng 7, 48 chiếc F-105 đã tham gia cuộc không kích mang tên Chiến dịch Spring High. Phía Việt Nam biết máy bay Mỹ đang đến và đã bố trí nhiều pháo cao xạ 23 mm (0,91 in)37 mm (1,5 in) tại hai địa điểm SAM. Những khẩu pháo này cực kỳ nguy hiểm ở cự ly gần. Việt Nam đã bắn rơi sáu máy bay và hơn một nửa số máy bay Mỹ còn lại bị hư hại do hỏa lực mặt đất. Tuy nhiên, Việt Nam đã thay thế các tên lửa SAM bằng các bó tre sơn trắng. Chiến dịch Spring High đã phá hủy hai mục tiêu giả nhưng phải đánh đổi bằng sáu máy bay và năm phi công.[25]

Giai đoạn 1965-1966, Mỹ đã phát triển các biện pháp đối phó với mối đe dọa S-75. Hải quân sớm đưa tên lửa chống bức xạ đất đối không AGM-45 Shrike vào sử dụng và thực hiện cuộc tấn công đầu tiên vào một trận địa vào tháng 10 năm 1965. Không quân đã trang bị cho máy bay ném bom B-66 các máy gây nhiễu mạnh (làm mù các radar cảnh báo sớm) và phát triển các thiết bị gây nhiễu nhỏ hơn cho máy bay tiêm kích (chặn thông tin về khoảng cách của radar đối phương). Các phát triển sau đó bao gồm máy bay Wild Weasel, được trang bị hệ thống tên lửa AGM-45 Shrike để tự dẫn vào tín hiệu radar từ mối đe dọa.

Liên Xô và Việt Nam đã thích nghi với một số chiến thuật này. Liên Xô đã nâng cấp radar nhiều lần để cải thiện khả năng chống đối phó điện tử (ECM). Họ cũng giới thiệu chế độ dẫn đường thụ động, theo đó radar theo dõi có thể khóa vào chính tín hiệu gây nhiễu và dẫn tên lửa trực tiếp về nguồn gây nhiễu. Điều này cũng có nghĩa là radar theo dõi của trận địa SAM có thể tắt đi, ngăn chặn tên lửa Shrike tự dẫn vào nó. Các chiến thuật mới cũng được phát triển để chống lại Shrike. Một trong số đó là hướng radar sang một bên và sau đó tắt nó đi trong chốc lát. Vì Shrike là một loại tên lửa chống bức xạ tương đối sơ khai, nó sẽ đi theo chùm tia ra xa radar và sau đó đơn giản là đâm xuống khi mất tín hiệu. Kíp trắc thủ SAM có thể chiếu xạ máy bay đối phương trong giây lát để xem mục tiêu có trang bị Shrike hay không. Nếu máy bay phóng tên lửa, Shrike có thể bị vô hiệu hóa bằng kỹ thuật hướng sang bên mà không phải hy sinh quả S-75 nào. Một chiến thuật khác là "phóng giả", trong đó các tín hiệu dẫn đường tên lửa được truyền đi mà không có quả tên lửa nào thực sự được phóng. Điều này có thể làm phi công đối phương mất tập trung, hoặc đôi khi khiến họ thả đạn dược sớm để làm nhẹ máy bay nhằm né tránh quả tên lửa không tồn tại.

Đồng thời, các động tác cơ động né tránh được sử dụng và các cuộc oanh tạc dữ dội vào các vị trí bắn SAM đã được tổ chức. Trong điều kiện này, việc ngụy trang và giữ bí mật vô tuyến trở nên đặc biệt quan trọng. Sau các lần phóng chiến đấu, một tiểu đoàn tên lửa phòng không phải rời khỏi khu vực ngay lập tức, nếu không sẽ bị tiêu diệt bởi một cuộc ném bom. Cho đến tháng 12 năm 1965, theo dữ liệu của Mỹ, tám hệ thống S-75M đã bị phá hủy, mặc dù đôi khi máy bay Mỹ ném bom vào các trận địa giả trang bị tên lửa mồi làm bằng tre. Các tính toán của Liên Xô và Việt Nam tuyên bố đã tiêu diệt 31 máy bay; phía Mỹ thừa nhận mất 13 máy bay. Theo hồi ký của các cố vấn Liên Xô, trung bình một đơn vị tên lửa phòng không tiêu diệt được 5-6 máy bay Mỹ trước khi bị loại khỏi vòng chiến.[cần dẫn nguồn]

Bất chấp những tiến bộ này, Mỹ đã đưa ra được các gói ECM hiệu quả cho B-52E và các mẫu đời sau. Khi các máy bay B-52 thực hiện các cuộc không kích quy mô lớn vào Hà Nội và Hải Phòng trong 11 ngày đêm vào tháng 12 năm 1972, 266 tên lửa S-75 đã được phóng đi,[26] dẫn đến việc mất 15 máy bay ném bom và gây hư hại cho nhiều chiếc khác. Các biện pháp ECM tỏ ra hiệu quả về tổng thể, nhưng các chiến thuật bay lặp đi lặp lại của Không quân Mỹ trong giai đoạn đầu chiến dịch đã làm tăng khả năng bị tổn thương của máy bay ném bom, và các kíp trắc thủ Việt Nam đã áp dụng phương pháp phóng loạt lớn S-75 để áp đảo các biện pháp phòng thủ tự vệ của máy bay (xem Chiến dịch Linebacker II). Khi kết thúc chiến dịch Linebacker II, tỷ lệ bắn hạ của S-75 đối với B-52 là 7,52% (15 chiếc B-52 bị bắn rơi, 5 chiếc bị hư hại nặng cho 266 quả tên lửa[26]).

Tuy nhiên, một số máy bay Mỹ bị coi là "rơi do tai nạn bay" trên thực tế đã bị mất do tên lửa S-75. Khi hạ cánh tại một sân bay ở Thái Lan, một chiếc B-52 bị hư hại nặng bởi SAM đã chệch khỏi đường băng và nổ tung do vấp phải mìn được lắp quanh sân bay để bảo vệ khỏi quân du kích; chỉ một thành viên phi hành đoàn sống sót. Sau đó, chiếc B-52 này được tính là "rơi do tai nạn bay".[cần dẫn nguồn] Theo Dana DrenkowskiLester W. Grau, số lượng máy bay Mỹ được xác nhận là bị mất do chính họ cung cấp là không đáng tin cậy vì các số liệu của Mỹ cũng gây nghi ngờ. Nếu một chiếc máy bay bị hư hại nặng nhưng vẫn hạ cánh được, Không quân Mỹ không tính đó là một tổn thất ngay cả khi nó bị hư hỏng quá nặng để có thể bay lại.[27]

Trong chiến tranh Việt Nam, Liên Xô đã cung cấp 95 hệ thống S-75 và 7.658 quả tên lửa cho Việt Nam. 6.806 quả tên lửa đã được phóng hoặc bị loại bỏ do hết hạn sử dụng. Theo phía Việt Nam, S-75 đã bắn hạ 1.046 máy bay, chiếm 31% tổng số máy bay Mỹ bị bắn rơi. Để so sánh, pháo phòng không đã hạ 60% và 9% bị bắn rơi bởi tiêm kích MiG. Tỷ lệ pháo cao xạ cao hơn một phần là do các đơn vị pháo nhận được dữ liệu từ các trạm radar S-75, giúp cải thiện đáng kể hiệu quả của chúng.[21]


Tại các điểm nóng khác

[sửa | sửa mã nguồn]

Trong chiến tranh tiêu hao từ tháng 3/1969 đến tháng 9/1971, S-75 của Ai Cập đã bắn hạ không ít hơn 03 máy bay tiêm kích F-4 Phantom và 01 chiếc Mister, 01 máy bay cường kích A-4, 01 máy bay vận tải và 01 sở chỉ huy trên không C-97 của Israel.

Tháng 6/1982, S-75 của Syria hạ 1 chiếc tiêm kích Kfir–C2 của Israel. Ngày 21 tháng 1 năm 1991, lần đầu tiên, tên lửa S-75 của Syria đã hạ một máy bay F-14 Tomcat của Không quân Israel tại vùng trời cao nguyên Golan.

S-75 của Iraq trong Chiến tranh Iran - Iraq năm 1980 -1988 đã bắn rơi ít nhất 04 chiếc F-4 Phantom và 01 chiếc F-5E của Iran. Trong Chiến dịch Bão táp sa mạc tháng 1-2/1991, S-75 của Iraq hạ 1 máy bay F-15E Strike Eagle của Không quân Mỹ, 01 máy bay F-14 của Hải quân Mỹ, 01 máy bay Panvia Tornado của Không quân Hoàng gia Anh.

Trong Cuộc xung đột Abkhazia - Gruzia (1992-1993), ngày 19 tháng 3 năm 1993, tên lửa S-75 của Gruzia cũng hạ được một chiếc tiêm kích Sukhoi Su-27 của Không quân Nga.[18]

Trong Cuộc xung đột Yemen, ngày 14 tháng 2 năm 2020, 1 tên lửa Sayyad-1 (là bản sửa đổi từ hệ thống S-75 Dvina được sản xuất tại Iran) đã bắn hạ được một chiếc cường kích phản lực Panavia Tornado của Không quân Ả Rập Xê Út.[28]

Một số cải tiến và ứng dụng thực tế

[sửa | sửa mã nguồn]

Cải tiến tại Việt Nam

[sửa | sửa mã nguồn]

Cải tiến đáng kể nhất của hệ thống S-75 Dvina tại Việt Nam là việc chống nhiễu điện tử, đảm bảo cho bộ khí tài điều khiển tên lửa hoạt động bình thường. Ngày 15 tháng 12 năm 1967, Không quân Hoa Kỳ tung ra 44 phi vụ máy bay cường kích đánh phá cầu Đuống. Các tiểu đoàn tên lửa phòng không bảo vệ Hà Nội phóng lên 8 quả đạn đều không điều khiển được, hoặc rơi xuống đất, hoặc vượt mục tiêu tự huỷ. Sở dĩ có hiện tượng trên là do không quân Hoa Kỳ đã sử dụng máy phát nhiễu ALQ-71 gây nhiễu toàn bộ rãnh sóng điều khiển đạn và rãnh sóng xung trả lời của đạn (gọi chung là nhiễu rãnh đạn).

Sau khi dùng các biện pháp thu sóng kết hợp chụp ảnh, lực lượng phòng không Việt Nam đã phát hiện ra dải tần số và cường độ của loại nhiễu này. Từ các phát hiện trên, các chuyên gia Liên Xô và các kỹ sư quân sự Việt Nam đã khắc phục bằng phương pháp "át nhiễu", nâng công suất sóng trả lời của đạn và sóng điều kiển đạn lên gấp ba lần, đủ sức vượt qua cường độ nhiễu không chỉ của loại ALQ-71 mà còn cả các loại máy gây nhiễu cùng tính năng có công suất lớn hơn như ALQ-101, ALQ-107. Từ năm 1968 đến năm 1973, các loại máy gây nhiễu rãnh đạn kiểu ALQ-xxx của không lực Hoa Kỳ trở nên vô hiệu đối với S-75 Dvina.

Ngoài ra, trong suốt hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của Hoa Kỳ tại miền Bắc Việt Nam từ 1965 đến 1968 và năm 1972, hệ thống radar của S-75 Dvina đã được cải tiến 4 lần với 40 nội dung kỹ thuật để theo kịp cuộc chiến tranh điện tử của không lực Hoa Kỳ, bảo đảm an toàn trong sử dụng và nâng cao độ chính xác khi chiến đấu.[29]

Image
Cuốn tài liệu "Cách đánh B-52" (thường gọi là "Cẩm nang bìa đỏ") do Phòng Tác huấn của Binh chủng Tên lửa phòng không Việt Nam biên soạn, một tài liệu ứng dụng hữu hiệu hệ thống SAM-2 góp phần bắn rơi nhiều B-52 của không quân Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam

S-75 Dvina vốn là loại vũ khí phòng không được chế tạo để bảo vệ mục tiêu cố định là các thành phố lớn, các khu công nghiệp, khu dân cư lớn, các căn cứ quân sự, sở chỉ huy cố định và các yếu địa khác; vì vậy, tính chất tác chiến chủ yếu của nó là cố định và đặc điểm cấu tạo của vũ khí này cũng phù hợp với các trận địa cố định. Trận địa S-75 cơ bản có hình lục giác đều với đường kính tới vài trăm mét nên dễ bị phát hiện từ trên không, sau này người Việt Nam đã bỏ kiểu bố trí đó vì lý do trên.

Trong chiến tranh đất đối không tại Việt Nam (1965-1972), do ưu thế gần như áp đảo của không quân Hoa Kỳ nên các đơn vị phòng không Việt Nam phải thực hiện chiến thuật cơ động và nghi binh cho tên lửa phòng không S-75 Dvina. Theo điều lệnh tác chiến của lực lượng phòng không Liên Xô (cũ), mỗi tiểu đoàn S-75 Dvina (kể cả loại S-75B Volkhov) đều cần từ 1 đến 2 trận địa dự bị trong phạm vi bán kính cơ động 5 đến 10 km. Tại Việt Nam, mỗi tiểu đoàn S-75 Dvina có từ 4 đến 6 trận địa dự bị ở phạm vi cơ động có thể lên đến hàng trăm km trên nhiều loại địa hình khác nhau. Sau mỗi trận đánh, toàn bộ khí tài được tháo dỡ, thu gom trong vòng chưa đến 1 giờ và được di chuyển ngay đến trận địa mới. Tại trận địa cũ, người ta thường để lại một bộ khí tài giả làm bằng tre và cót, được sơn phết giống như thật. Đã nhiều lần, máy bay cường kích của Hoa Kỳ đã đánh vào các trận địa giả này. Do đó, mặc dù có số lượng không lớn nhưng nhiều đơn vị S-75 Dvina của phòng không Việt Nam vẫn tránh được những đòn đánh hủy diệt của Hoa Kỳ, bảo toàn được lực lượng.[30]

Mặc dù cơ động những bộ khí tài có tổng trọng lượng lên đến hàng trăm tấn trong điều kiện địa hình phức tạp, đường giao thông kém phát triển nhưng lực lượng phòng không Việt Nam vẫn dùng sức người để vượt qua, gây nhiều bất ngờ cho Hoa Kỳ.

Cũng theo bài bản tác chiến thì mỗi tiểu đoàn tên lửa S-75 Dvina (kể cả loại S-75B Volkhov) đều phải triển khai đủ 6 bệ phóng và đầy đủ bộ khí tài kèm theo. Tuy nhiên, trong các năm 1966-1968 và 1972, khi triển khai chiến đấu tại địa bàn Quảng Bình, Vĩnh LinhQuảng Trị chật hẹp, nhiều tiểu đoàn chỉ triển khai được 3 bệ, 2 bệ, thậm chí một bệ vẫn chiến đấu mặc dù hiệu suất bị giảm. Ngay tại đồng bằng Bắc Bộ, trong năm 1972, do bị thiếu khí tài, một số tiểu đoàn đã mạnh dạn chia số lượng bệ phóng ra 2-3 trận địa, trên đó, đã lắp sẵn đạn. Khi đánh xong ở một trận địa, kíp chiến đấu lập tức kéo khí tài ra trận địa mới, đấu nối với các bệ phóng đã sẵn sàng và có thể chiến đấu được ngay. Chiến thuật này đã gây bất ngờ không chỉ đối với Hoa Kỳ mà còn ngay cả đối với các sĩ quan tên lửa Liên Xô đang làm cố vấn tại Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh.[31]

Trong kháng chiến chống Mỹ, trường Sĩ quan Pháo binh đã được giao nhiệm vụ chỉ huy cụm pháo binh bờ biển Sầm Sơn - Thanh Hóa nghiên cứu sử dụng tên lửa phòng không S-75 như là tên lửa chống hạm để đánh tàu chiến địch. S-75 vốn là tổ hợp tên lửa phòng không, nhưng vẫn có thể bắn được mục tiêu trên mặt nước nếu nó có bề mặt phản xạ điện từ lớn (để bám bắt bằng radar) hoặc kích thước lớn (để bám sát bằng khí tài quang học). Như vậy, về lý thuyết thì có thể dùng S-75 để bắn vào tàu chiến lớn cỡ khu trục hạm. Đạn V-750 có tầm bắn lên đến 30 km, mang đầu đạn nặng 190 kg, khi bắn mục tiêu mặt nước sẽ bay vọt lên cao rồi "bổ nhào" xuống mục tiêu, 1 tiểu đoàn tên lửa S-75 có thể phóng liên tiếp 3 đạn về phía mục tiêu. Đây chỉ là biện pháp bất đắc dĩ vì tên lửa có giá thành khá đắt, nhưng trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, đó là loại vũ khí mạnh nhất mà Việt Nam có được (khi đó Liên Xô chưa viện trợ tên lửa chống hạm cho Việt Nam). Tuy nhiên, việc này chỉ dừng ở mức thử nghiệm, chưa từng có hệ thống S-75 nào được dùng để bắn vào tàu chiến Mỹ.

Các biện pháp phản công và chống phản công

[sửa | sửa mã nguồn]

Trong năm tiếp sau Hoa Kỳ đã đưa ra một số giải pháp cho SAM-2. Hải quân nhanh chóng đưa tên lửa Shrike vào hoạt động, và thực hiện cuộc tấn công đầu tiên của họ vào một trận địa vào tháng 10. Không quân phản ứng bằng cách trang bị cho những chiếc máy bay ném bom B-66 các đài nhiễu âm mạnh che mắt các radar cảnh báo sớm, và phát triển các kén làm nhiễu nhỏ hơn cho các máy bay chiến đấu làm phân tán thông tin phản hồi tới radar. Những phát triển sau này gồm máy bay F-105 Wild Weasel được trang bị các kén làm nhiễu và các hệ thống phản công điện tử, với mục đích làm nhiễu và sau đó bắn vào các trận địa bằng các tên lửa Shrike của chúng.

Kết quả của việc gây nhiễu của Mỹ là trên màn hình đài radar liên tục xuất hiện nhiễu thụ động - từ dải băng hẹp đến dải sáng đều của toàn màn hình. Khi sử dụng nhiễu năng lượng cao, việc tiêu diệt máy bay tiêm kích-cường kích gần như là không thể. Về mặt lý thuyết, trong trường hợp nhiễu chủ động, tên lửa được dẫn đường theo phương pháp "3 điểm" song trên thực tế việc xác định tâm nhiễu là không thể do độ chiếu sáng mạnh trên màn hình.[32]

Tuy nhiên người Liên Xô và Việt Nam đã có khả năng thích ứng với một số chiến thuật đó. Liên Xô đã nhiều lần nâng cấp radar để cải thiện tính năng chống phản công điện tử. Họ cũng đưa ra một phương thức dẫn đường thụ động mới, theo đó tên lửa có thể khoá mục tiêu vào chính máy gây nhiễu. Điều này giúp tăng thêm ưu thế, bởi radar có thể tắt đi, khiến các tên lửa Shrike không thể hoạt động nhưng đạn V-75 vẫn bám mục tiêu đã được khóa và diệt mục tiêu. Hơn nữa, một số chiến thuật mới được phát triển để chống lại tên lửa Shrike. Một trong số chúng là hướng radar sang bên cạnh và bất ngờ tắt đi. Bởi Shrike là tên lửa chống bức xạ khá sơ khai, nó sẽ đi theo luồng sóng ra khỏi radar và sau đó đơn giản là rơi xuống khi mất tín hiệu (khi radar dừng phát sóng).[33] Một cách khác là "phóng giả", khi radar thám sát được bật nhưng các tên lửa thực tế không được phóng đi. Điều này cho phép khẩu đội tên lửa quan sát xem mục tiêu có được trang bị Shrike hay không. Nếu máy bay bắn một tên lửa, nó có thể bị vô hiệu bởi kỹ thuật bên trên trong khi các trận địa SAM không phải lãng phí đạn tên lửa.

Các hệ thống phòng không thay thế

[sửa | sửa mã nguồn]

Các lực lượng phòng không Liên Xô bắt đầu thay thế SAM-2 bằng các hệ thống SA-4, SA-5 hiện đại hơn từ cuối thập niên 1960, tiếp đó là SA-10SA-12 còn hiện đại hơn nữa từ thập niên 1980. Ngày nay, tất cả 4.600 bệ phóng tên lửa SAM-2 đã không còn phục vụ ở Nga, thậm chí dù chúng đã qua một chương trình hiện đại hoá vào năm 1993.

Tới năm 2010, SAM-2 vẫn còn được sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới, với một số mức độ khả năng hoạt động ở 35 quốc gia. Ở thời điểm năm 2010, Việt Nam và Ai Cập là những nước triển khai nhiều nhất với 280 bệ phóng tại mỗi nước, Bắc Triều Tiên có 270 bệ phóng, và Ba Lan có 240. Trung Quốc cũng triển khai HQ-2 (một phiên bản copy SAM-2) với số lượng khá lớn cho tới khi loại chúng khỏi biên chế vào năm 2017.


Cơ cấu tổ chức và biên chế

[sửa | sửa mã nguồn]

Học thuyết tổ chức của Liên Xô

[sửa | sửa mã nguồn]
Image
Trận địa SAM-2 tại miền Bắc Việt Nam. Chú ý tới mô hình lục giác khiến các trận địa dễ bị phát hiện từ trên không, sau này người Việt Nam đã bỏ kiểu bố trí đó vì lý do trên
Image
Không ảnh một trận địa SAM-2 tại Cuba do máy bay trinh sát của Không lực Hoa Kỳ chụp trong cuộc khủng hoảng tên lửa năm 1962

Liên Xô sử dụng một tiêu chuẩn cơ cấu tổ chức khá tốt cho các đơn vị SAM-2. Các quốc gia khác có triển khai SAM-2 có thể sửa đổi cơ cấu này. Nói chung, SAM-2 được tổ chức theo cơ cấu trung đoàn với từ ba đến bốn tiểu đoàn hỏa lực và một tiểu đoàn kỹ thuật. Sở chỉ huy trung đoàn sẽ căn cứ thông tin tình hình đối phương từ mạng radar cảnh giới quốc gia kết hợp với các radar cảnh báo sớm của mình để chỉ đạo hoạt động tác chiến của các tiểu đoàn hỏa lực. Căn cứ thông tin do mạng thông tin trung đoàn cung cấp, các tiểu đoàn hỏa lực với 6 bệ phóng và 6 đạn thường trực sẽ thực hành tác chiến với các radar sục sạo mục tiêu, radar ngắm bắn và radar điều khiển của riêng mình phóng đạn đến mục tiêu.

Một trung đoàn tên lửa phòng không trang bị hệ thống S-75 bao gồm ba tiểu đoàn hỏa lực và một tiểu đoàn kỹ thuật. Theo biên chế, trung đoàn (bao gồm ban chỉ huy trung đoàn, ba tiểu đoàn hỏa lực và một tiểu đoàn kỹ thuật) có 51 sĩ quan và 466 hạ sĩ quan, binh sĩ. Ban chỉ huy trung đoàn gồm 8 sĩ quan và 60 hạ sĩ quan, binh sĩ.

Mỗi tiểu đoàn trong số ba tiểu đoàn hỏa lực bao gồm:

  • Ban chỉ huy tiểu đoàn gồm 4 sĩ quan và 43 hạ sĩ quan, binh sĩ;
  • Đại đội điều khiển hỏa lực gồm 4 sĩ quan và 20 hạ sĩ quan, binh sĩ, vận hành 4 cabin radar và 9 xe ô tô;
  • Đại đội phóng gồm 3 sĩ quan và 34 hạ sĩ quan, binh sĩ, vận hành 6 bệ phóng, 6 xe vận chuyển-nạp đạn (TZM) và 9 xe ô tô.

Tiểu đoàn kỹ thuật của trung đoàn có biên chế gồm 10 sĩ quan và 115 hạ sĩ quan, binh sĩ. Đơn vị này vận hành 2 hệ thống cấp điện, 12 xe vận chuyển-nạp đạn, 2 xe cần cẩu, 6 xe nạp nhiên liệu, 38 xe ô tô và các thiết bị kỹ thuật khác.[34]

Bố trí trận địa

[sửa | sửa mã nguồn]

Mỗi tiểu đoàn thông thường có 6 bệ phóng bán cố định đơn thân cho các tên lửa V-750 của họ được bố trí xấp xỉ 60-100 mét cách nhau theo mô hình hoa sáu cạnh với các radar và các hệ thống dẫn đường được đặt ở trung tâm. Kiểu hình hoa này khiến các trận địa rất dễ bị nhận biết từ các ảnh trinh sát trên không. Thông thường sáu tên lửa của cơ số đạn thứ hai được cất giữ trên những xe đầu kéo gần trung tâm trận địa. Tùy theo mức độ tác chiến và cường độ hỏa lực cần huy động, người ta có thể tăng thêm đạn V-750 cho một tiểu đoàn thêm một đến hai cơ số.

Mô tả vũ khí

[sửa | sửa mã nguồn]

Tên lửa

[sửa | sửa mã nguồn]
V-750
Image
Đạn tên lửa V-750V trong tư thế lắp ráp
LoạiTên lửa đất đối không
Nơi chế tạoImage Liên Xô
Lược sử chế tạo
Các biến thểV-750, V-750V, V-750VK, V-750VN, V-750M, V-750SM, V-750AK
Thông số (V-750[35])
Đường kính700 mm
Đầu nổFrag-HE
Cơ cấu nổCưỡng bức hoặc tự động

Chất nổ đẩy đạnNhiên liệu rắn cho tầng khởi động, nhiên liệu lỏng cho tầng hành trình.
Tầm hoạt động30 kilômét (19 mi) - 45 kilômét (28 mi) (tùy phiên bản)
Độ cao bay25.000 mét (82.000 ft)
Thời gian đạt vận tốc tối đa5 s phóng, sau đó 20 s duy trì
Hệ thống chỉ đạodẫn đường điều khiển radio
Độ chính xác65 mét
Nền phóngĐơn thân, lắp trên mặt đất (không di động)

V-750 là đạn tên lửa loại hai tầng, gồm tầng đầu là động cơ phóng sử dụng nhiên liệu rắn và tầng kế tiếp theo là động cơ chính để duy trì quỹ đạo sử dụng nhiên liệu lỏng, đốt acid nitric khói đỏ là chất oxy hóa và nhiên liệu chính là TG-02. Khi khởi động, động cơ phóng hoạt động trong khoảng 4-5 giây, và động cơ chính trong khoảng 22 giây, tới thời điểm đó tên lửa đã bay ở tốc độ khoảng Mach 3. Tầng động cơ phóng được lắp bốn cánh tam giác lớn với các bề mặt điều khiển nhỏ trên bộ phận lái của chúng, được dùng để điều khiển chống xoay tròn. Tiếp theo là khớp nối tầng với cụm 4 cánh hình tam giác nhỏ hơn nằm gần giữa thân. Tầng động cơ chính cũng có 4 cánh hình tam giác nhỏ hơn tầng đầu một chút, cùng lúc vừa làm nhiệm vụ chống xoay tròn, vừa làm nhiệm vụ lái đạn (được các trắc thủ điều khiển qua sóng vô tuyến cao tần từ xe chỉ huy trung tâm). Cuối cùng, với một bộ bề mặt điều khiển nhỏ hơn ở cực ngoài và (ở hầu hết các model) có các bộ phận thăng bằng nhỏ hơn ở mũi.

Các tên lửa được dẫn đường bằng tín hiệu điều khiển radio từ các máy tính dẫn đường ở trận địa. Các xung điều khiển và phản hồi được truyền dẫn trên ba kênh. Các model SAM-2 ban đầu nhận lệnh điều khiển thông qua hai bộ gồm bốn ăng ten nhỏ ở phía trước bộ phận thăng bằng trước, trong khi các model từ D về sau sử dụng các dải ăng ten lớn hơn chạy giữa các bộ phận thăng bằng trước và giữa. Hệ thống dẫn đường ở một trận địa SAM-2 chỉ có thể giải quyết từng mục tiêu, nhưng có thể hướng ba tên lửa chống lại nó. Các tên lửa khác có thể được phóng chống lại cùng một mục tiêu sau khi một hay nhiều tên lửa đã phóng lúc đầu đã hoàn thành đường bay và kênh radio trống.

Tên lửa thông thường được lắp một đầu đạn phân mảnh 195 kg (430 lb), với các kiểu kích hoạt nổ tiếp cận, tiếp xúc hay chỉ huy. Đầu đạn có bán kính tiêu diệt khoảng 65 m (215 ft) ở các độ cao thấp, ở các độ cao lớn với khí quyển loãng hơn cho phép mở rộng bán kính tiêu diệt lên đến 250 m (820 ft). Tên lửa có độ chính xác khoảng 75 m (250 ft), vì vậy thường phải phóng hai quả tê lửa cùng lúc nhắm vào 1 mục tiêu để tăng xác suất trúng đích.

Một phiên bản, SA-2E, được lắp đầu đạn hạt nhân 295 kg (650 lb) với đương lượng nổ ước tính 15 kt, hay một đầu đạn quy ước với trọng lượng tương tự. Các đầu nổ của đạn V-750 và các phiên bản của chúng đều được lắp hai hệ thống ngòi nổ. Hệ thống ngòi nổ sát thương gồm hai chế độ điều khiển cưỡng bức và tự động, hoạt động vào chế độ điều khiển quỹ đạo của đạn. Hệ thống ngòi nổ tự hủy chỉ có chế độ tự động và chỉ được kích hoạt ở độ cao trên 23 km khi ngòi nổ sát thương không hoạt động. Ở độ cao dưới 1.000 m, ngồi nổ tự hủy hoàn toàn không hoạt động.

Tầm hoạt động thông thường của tên lửa khoảng 30 tới 45 km (20-30 dặm), với độ cao tối đa khoảng 20 tới 25 km (tùy phiên bản tên lửa). Radar và hệ thống dẫn đường có ngưỡng tầm ngắn khá dài, khoảng 500-1.000 m (3,000 ft), khiến chúng kém hiệu quả khi tấn công mục tiêu bay ở độ cao thấp, do đó các trận địa SAM-2 thường được bố trí pháo phòng không ở xung quanh để tự bảo vệ trước các máy bay tầm thấp.

Các tên lửa từ SA-2 Guideline (tất cả các phiên bản SA-75 / SAM-2)

Tên lửa Chỉ số của nhà máy Tính năng
V-750 1D Tầm bắn 7 – 29 km, Độ cao bắn 3000 – 23000 m
V-750V 11D Tầm bắn 7 – 29 km, Độ cao bắn 3000 – 25000 m, Trọng lượng 2163 kg, Chiều dài 10726 mm, Trọng lượng đầu đạn 190 kg, Diameter 500 / 654 mm
V-750VK 11D Tên lửa đã hiện đại hoá
V-750VM 11DM Tên lửa để bắn máy bay – máy làm nhiễu
V-750VM 11DU Tên lửa đã hiện đại hoá
V-750VM 11DА Tên lửa đã hiện đại hoá
V-750M 20ТD Không có thông tin chi tiết
V-750SM - Không có thông tin chi tiết
V-750VN 13D Tầm bắn 7 - 29/34 km, Độ cao bắn 3000 - 25000/27000 m, Chiều dài 10841 mm
- 13DА Tên lửa với đầu đạn mới trọng lượng 191 kg
V-750АK - Không có thông tin chi tiết
V-753 13DM Tên lửa từ hệ thống SAM hải quân M-2 Volkhov-M (SA-N-2 Guideline)
V-755 20D Tầm bắn 7 – 43 km, Độ cao bắn 3000 – 30000 m, Trọng lượng 2360 – 2396 kg, Chiều dài 10778 mm, Trọng lượng đầu đạn 196 kg
V-755 20DP Tên lửa bắn vào tuyến bay thụ động, Tầm bắn 7 – 45 km chủ động, 56 km passive, Độ cao bắn 300 - 30000 (35000) m
V-755 20DА Tên lửa đã hết giai đoạn bảo đảm và được chuyển đổi thành 20DS
V-755OV 20DO Tên lửa để thu thập mẫu không khí
V-755U 20DS Tên lửa với khối lựa chọn để bắn vào mục tiêu độ cao thấp (dưới 200 m), Độ cao bắn 100 - 30000 / 35000 m
V-755U 20DSU Tên lửa với khối lựa chọn để bắn mục tiêu độ cao thấp (dưới 200 m) và rút ngắn thời gian chuẩn bị phóng tên lửa, Độ cao bắn 100 - 30000 / 35000 m
V-755U 20DU Tên lửa với thời gian chuẩn bị phóng ngắn
V-759 5Ja23 (5V23) Tầm bắn 6 - 56 (hay 60 hay 66) km, Độ cao bắn 100 - 30000 / 35000 m, Trọng lượng 2406 kg, Chiều dài 10806 mm, Trọng lượng đầu đạn 197 – 201 kg
V-760 15D Tên lửa với đầu đạn hạt nhân
V-760V 5V29 Tên lửa với đầu đạn hạt nhân
V-750IR - Tên lửa với kíp nổ xung radio
V-750N - Tên lửa thử nghiệm
V-750P - Tên lửa thực nghiệm - với các cánh xoay
V-751 KM Tên lửa thực nghiệm – phòng thí nghiệm bay
V-752 - Tên lửa thực nghiệm - bộ phận phóng ở các bên
V-754 - Tên lửa thực nghiệm - với đầu điều khiển bán chủ động
V-757 17D Tên lửa thực nghiệm - với động cơ phản lực tĩnh siêu âm
- 18D Tên lửa thực nghiệm - with scramjet[36]
V-757Kr 3M10 Tên lửa thực nghiệm – phiên bản cho2K11 Krug (SA-4 Ganef)
V-758 (5 JaGG) 22D Tên lửa thực nghiệm – tên lửa ba giai đoạn, Đầu đạn 3200 kg, Tốc độ 4,8 M (= 1560 m/s = 5760 km/h)
Korshun - Tên lửa mục tiêu
RM-75MV - Tên lửa mục tiêu – cho độ cao thấp
RM-75V - Tên lửa mục tiêu – cho độ cao lớn
Sinitsa-23 5Ja23 Tên lửa mục tiêu
Image
Radar 'Fan Song'

SAM-2 thông thường sử dụng radar cảnh báo sớm Spoon Rest với tầm hoạt động khoảng 275 km (170 miles). Radar Spoon Rest cung cấp thông tin thám sát sớm về máy bay đang tới và sau đó chuyển nó cho radar thu nhận Fan Song. Những radar này, có tầm hoạt động khoảng 65 km (40 dặm), được dùng để xác định vị trí, cao độ, và tốc độ của máy bay thù địch. Hệ thống Fan Song gồm hai ăng ten hoạt động ở các tần số khác nhau, một cung cấp thông tin về độ cao và chiếc kia thu thập thông tin về góc phương vị. Trụ sở trung đoàn cũng có một radar Spoon Rest, và một radar tầm xa băng C Flat Face và thiết bị dò tìm cao độ Side Net. Thông tin từ các radar này được gửi từ trung đoàn xuống những người điều khiển radar Spoon Rest tại các tiểu đoàn để cho phép họ phối hợp tìm kiếm. Những phiên bản SAM-2 ban đầu sử dụng một radar mục tiêu được gọi là Knife Rest, đã được thay thế trong sử dụng tại Liên Xô, nhưng vẫn được thấy ở những cụm bố trí cũ ở các quốc gia khác.

Các biến thể chủ yếu

[sửa | sửa mã nguồn]

Các nâng cấp cho các hệ thống tên lửa chống máy bay thường gồm việc cải tiến cả tên lửa, radar và bảng điều khiển. Thông thường những nâng cấp của tên lửa dẫn tới những thay đổi của các thành phần khác đều lợi dụng ưu thế tính năng mới được cải tiến của nó. Vì thế, khi Liên Xô đưa ra một SAM-2 mới, nó đi kèm với một radar cải tiến để thích ứng với tầm hoạt động và độ cao lớn hơn của tên lửa.

  • SA-2A; SAM-2 Dvina (Двина - Sông Dvina) với radar dẫn đường Fan Song-A và tên lửa V-750 hay V-750V. Việc triển khai đầu tiên bắt đầu năm 1957. Cả tên lửa và bộ phận phóng dài 10.6 m (34.8 ft), với bộ phận phóng có đường kính 0.65 m (25.5 in), và đường kính tên lửa 0.5 m (19.7 in). Trọng lượng phóng là 2287 kg (5,041 lb). Tên lửa có tầm hoạt động hiệu quả 30 km (19 dặm), với tầm hoạt động tối thiểu 8 km (5 dặm) và cao độ đánh chặn trong khoảng 450 và 25,000 m (1,500-82,000 ft).
  • SA-2B; SAM-2 Desna (Tiếng Nga Десна - Sông Desna). Phiên bản này có các radar Fan Song-B cải tiến với các tên lửa V-750VK và V-750VN, đi vào phục vụ năm 1959. Các tên lửa hơi dài hơn các phiên bản A, dài 10.8 m (35.4 ft), vì có bộ phận phóng mạnh hơn. SA-2B có thể chiến đấu với các mục tiêu ở cao độ từ 500 m đến 30 km (1,640-98,450 ft) và tầm hoạt động lên tới 34 km (21 dặm).
Image
Đạn tên lửa V-750 trong tư thế vận chuyển trên xe TZM kiểu Zil-131
  • SA-2C; SAM-2M Volkhov (Tiếng Nga Волхов - Sông Volkhov). Một lần nữa, model mới có một radar cải tiến, Fan Song-C, đi cùng với tên lửa V-750M đã được nâng cấp, được triển khai năm 1961. Tên lửa V-750M có vẻ ngoài giống với V-750VK/V-750VN, nhưng có tính năng tốt hơn với tầm hoạt động lên tới 43 km (27 dặm) và giới hạn độ cao giảm còn 400 m (1,312 ft).
  • SA-N-2A; SAM-2M-2 Volkhov-M: Phiên bản hải quân của model C và được trang bị cho tàu tuần dương lớp Sverdlov Dzerzhinski. Biến thể này nói chung bị coi là không thành công và không được trang bị cho bất kỳ một tàu nào khác.
  • SA-2D; radar Fan Song-E và tên lửa V-750SM. Tên lửa V-750SM khác biệt khá nhiều so với các phiên bản A/B/C vì có các ăng ten mới với một máy dò khí áp mũi dài hơn. Nhiều khác biệt khác ở hộp motor duy trì. Tên lửa dài 10.8 m (35.4 ft), có cùng đường kính thân và đầu đạn như SA-2C, nhưng trọng lượng tăng lên tới 2450 kg (5,400 lb). Tầm hoạt động hiệu quả là 43 km (27 dặm), tầm hoạt động tối thiểu 6 km (4 dặm) và độ cao đánh chặn trong khoảng 250 và 25000 m (820-82,000 ft). Các biện pháp phản công máy bay được cải tiến dẫn tới sự phát triển Fan Song-E với các ăng ten tốt hơn có thể cắt xuyên qua dải nhiễu mạnh.
  • SA-2E: radar Fan Song-E và tên lửa V-750AK. Tương tự như model D, nhưng với một đầu đạn hình củ hành và không có các cánh thăng bằng phía trước. SA-2E dài 11.2 m (36.7 ft), có đường kính thân 0.5 m (19.7 in) và trọng lượng khi phóng 2450 kg (5,400 lb). Tên lửa có thể được trang bị hoặc đầu nổ hạt nhân chỉ huy 15 kt hoặc một đầu đạn HE quy ước 295 kg (650 lb).
  • SA-2F: radar Fan Song-F và tên lửa V-750SM. Sau khi quan sát việc gây nhiễu ở Việt Nam và sự đối phó trong cuộc Chiến tranh Sáu Ngày khiến loại SA-2 hoàn toàn không hiệu quả, các hệ thống hiện hữu nhanh chóng được nâng cấp với một hệ thống radar mới được thiết kế để bỏ qua các nhiễu nhấp nháy (scintillation) băng rộng. Hệ thống chỉ huy cũng gồm một phương thức điều khiển trên nhiễu (home-on-jam) để tấn công máy bay mang theo thiết bị làm nhiễu, cũng như một hệ thống hoàn toàn quang (sử dụng hạn chế) khi chúng không thể hoạt động. Công việc phát triển model F được bắt đầu năm 1968 và được triển khai tại Liên Xô cuối năm đó, trong khi các chuyến tàu chở tên lửa tới Việt Nam bắt đầu cuối năm 1970.
  • SAM-2M Volga (Tiếng Nga С-75М Волга - Sông Volga). Phiên bản từ năm 1995.
  • SAM-2M3 Volga-2 (Tiếng Nga С-75М Волга - Sông Volga). Phiên bản từ năm 2011. Điểm đặc biệt của gói nâng cấp này là hệ thống điều khiển hỏa lực sử dụng một số thành phần kỹ thuật số dùng cho hệ thống phòng không tối tân S-300 PMU1/2, bao gồm:
    • Tự động theo dõi mục tiêu và dẫn hướng cho tên lửa trong môi trường tác chiến điện tử mạnh, khả năng kháng nhiễu điện tử của hệ thống tăng lên 20 lần so với S-75 nguyên bản, có thể chịu được cường độ nhiễu 2.000 W/MHz phát ra từ máy gây nhiễu ở cự ly 100 km.
    • Tăng khả năng bám bắt và chống mục tiêu bay thấp, thời gian từ khi bám bắt mục tiêu đến khi sẵn sàng phóng tên lửa giảm từ 8 giây xuống 3 giây.
    • Đài điều khiển hỏa lực SNR-75M3 nâng cấp có khả năng bám mục tiêu ở cự ly tới 100 km, có dẫn đường cho 2 tên lửa tấn công mục tiêu cùng lúc (trước nâng cấp chỉ dẫn được một mục tiêu).
    • Đạn tên lửa sau nâng cấp có tầm xa tới 60 km, độ cao 27 km (trước nâng cấp chỉ là 45 km và 25 km), xác suất diệt mục tiêu ở cự ly 50 km đạt từ 65-98%. Đầu đạn nổ nặng 195 kg (tăng 30% so với SA-2 nguyên bản), khi nổ tạo ra khoảng 29.000 mảnh vỡ có phạm vi sát thương lên đến 65m ở độ cao thấp hoặc 250m ở độ cao lớn.
    • Giảm 40% lượng điện tiêu thụ nhờ sử dụng linh kiện mới.

Như đã đề cập từ trước, đa số các quốc gia có SAM-2 đã gắn các phần từ các phiên bản khác nhau, từ các hệ thống của một bên thứ ba hay thêm các thành phần được sản xuất trong nước. Điều này đã tạo ra rất nhiều biến thể SAM-2 theo nhu cầu sử dụng của từng nước.

Image
Một HQ-2 trưng bày tại Minsk WorldShenzhen, Trung Quốc
  • HQ-1 (Hồng Kỳ, Cờ đỏ): Phiên bản Trung Quốc của SA-2 với các thiết bị điện tử ECCM để chống System-12 ECM trên những chiếc U-2 do Phi đội Mèo Đen của Trung Hoa Dân Quốc sử dụng.
  • HQ-2: HQ-1 nâng cấp với khả năng ECCM thêm nữa để chống lại System-13 ECM trên những chiếc U-2 do Phi đội Mèo Đen của Đài Loan sử dụng. HQ-2 nâng cấp vẫn còn phục vụ hiện tại, và phiên bản mới nhất sử dụng radar mạng phase được đặt tên định danh SJ-202, có khả năng đồng thời thám sát và chiến đấu với nhiều mục tiêu ở độ cao 115 km và 80 km. Việc đưa vào sử dụng radar đa chức năng SJ-202 đã loại bỏ nhu cầu về nhiều radar với các chức năng riêng biệt, và vì thế cải thiện rất nhiều tính hiệu quả tổng thể của hệ thống phòng không HQ-2. Một phiên bản không người lái được đặt tên định danh BA-6.
  • SA-2 FC: Phiên bản mới nhất của Trung Quốc. Có thể thám sát sáu mục tiêu đồng thời và có khả năng điều khiển đồng thời 3 tên lửa.

Các quốc gia vận hành

[sửa | sửa mã nguồn]
Image
Các quốc gia vận hành
  Hiện tại
  Trước đây
Image
Đạn V-750 của hệ thống S-75 Dvina trên xe kéo đạn TZM trong cuộc diễu binh ngày 7 tháng 10 năm 1979 tại CHDC Đức (cũ)
Image
S-75M3 "Volhov" của Romania đang phóng tên lửa 5Ia23 tại bãi tập Capu Midia.
Image
Hệ thống Tên lửa đất đối không S-75 Dvina (SA-2) của Indonesia tại Bảo tàng Dirgantara Mandala

Đang vận hành

[sửa | sửa mã nguồn]

Trước đây

[sửa | sửa mã nguồn]

Chủ đề liên quan

[sửa | sửa mã nguồn]
  • 17D, rocket cho SAM-2
  • Project Nike Hệ thống tên lửa phòng không độ cao trung bình tương tự của Hoa Kỳ
  • Wild Weasel

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. "Зенитная Ракетная Система С-75 (SA-2 Guideline)" [S-75 Anti-Aircraft Missile System (SA-2 Guideline)]. Vestnik PVO (bằng tiếng Nga). ngày 3 tháng 12 năm 2005. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2014.
  2. 1 2 Cullen & Foss 1992, tr. 257−261.
  3. Leone, Dario (ngày 7 tháng 10 năm 2020). "How a Chinese SA-2 shot down a Taiwanese RB-57D and scored the first ever SAM-Kill". The Aviation Geek Club.
  4. Zaloga 2007, tr. 8: "Vào ngày 7 tháng 10 năm 1959, một trong những chiếc RB-57D của Đài Loan đã bị trúng đòn ở độ cao 65.600ft (20km) bởi một loạt phóng gồm ba tên lửa V-750"
  5. 1 2 Zaloga 2007, tr. 9.
  6. 1 2 Zaloga 2007, tr. 11.
  7. 1 2 "V-75 SA-2 Guideline". Federation of American Scientists. ngày 23 tháng 6 năm 2000. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 3 năm 2016.
  8. "Зенитная Ракетная Система С-75 (SA-2 Guideline)" [S-75 Anti-Aircraft Missile System (SA-2 Guideline)]. Vestnik PVO (bằng tiếng Nga). ngày 3 tháng 12 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 11 năm 2014.
  9. Tikhonov, Vol. 1 2010, tr. 24—27.
  10. Tikhonov, Vol. 1 2010, tr. 68—69.
  11. "Зенитно-ракетный комплекс С-75". Armedman.ru (bằng tiếng Nga).
  12. Leone, Dario (ngày 7 tháng 10 năm 2020). "How a Chinese SA-2 shot down a Taiwanese RB-57D". The Aviation Geek Club.
  13. Zaloga 2007, tr. 8.
  14. Barnes, Thornton D. "ROCAF U-2 Operations". Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2014.
  15. Correll, John T. (tháng 7 năm 2010). "Take It Down! The Wild Weasels in Vietnam" (PDF). Air Force Magazine. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 9 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2010.
  16. Malgin, A. S. (ngày 28 tháng 2 năm 2003). Проверены боем: Почему отечественные зенитные ракетные комплексы столь популярны на мировом оружейном рынке [Proven by combat: Why domestic surface-to-air missile systems are so popular on the world weapons market]. Nezavisimoye Voyennoye Obozreniye (bằng tiếng Nga) (7): 5. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 3 năm 2004.
  17. Gupta, Anchit; Pillarisetti, Jagan (ngày 25 tháng 8 năm 2018). "The S-75 Dvina - India's first Surface to Air Guided Weapon". Bharat Rakshak. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 8 năm 2018.
  18. 1 2 Aminov, Said (2009). "Georgia's Air Defense in the War with South Ossetia". Moscow Defense Brief. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2014.
  19. Balkan Battlegrounds: A Military History of the Yugoslav Conflict, 1990-1995. Trung tâm Tình báo Trung ương, Văn phòng Phân tích Nga và Châu Âu. 2002. tr. 251. ISBN 9780160664724.
  20. "Yemen modified S 75 missiles into unguided rockets, launched them into Saudi Arabia". Alert 5. ngày 14 tháng 12 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2017.
  21. 1 2 Tuchkov, Vladimir (ngày 14 tháng 10 năm 2018). "Русская «Двина», сбив сотни «Фантомов», довела американцев до психоза" [Loại 'Dvina' của Nga, sau khi bắn hạ hàng trăm chiếc 'Phantom', đã khiến người Mỹ rơi vào trạng thái hoảng loạn]. Свободная Пресса (bằng tiếng Nga). Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2018.
  22. Khvesyuk, N. (2009). Человек большой судьбы: К 100-летию со дня рождения маршала артиллерии Павла Николаевича Кулешова [A man of great destiny: To the 100th anniversary of the birth of Marshal of Artillery Pavel Nikolaevich Kuleshov] (PDF). Armeysky Sbornik (bằng tiếng Nga) (1): 45. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 10 tháng 11 năm 2012.
  23. Konstantinov, V. M. (2005). "Remembering combat friends" Вспоmiная боевых друзей. The Vietnam War... How it was (1965–1973) Война во Вьетнаме... Как это было (1965–1973) (bằng tiếng Nga) . Moscow: Ekzamen. tr. 74–85. ISBN 5-472-00800-X.
  24. Sozranov, A. (ngày 16 tháng 1 năm 2001). По местам былых боёв [To the places of past battles]. Krasnaya Zvezda (bằng tiếng Nga). Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 9 năm 2013.
  25. 1 2 Carlson, Mark (ngày 23 tháng 10 năm 2019). "Operation Spring High: Thuds vs. SAMs". HistoryNet. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2019.
  26. 1 2 Zaloga 2007, tr. 22.
  27. Drenkowski, Dana; Grau, Lester W. (2007). "Patterns and Predictability: The Soviet Evaluation of Operation Linebacker II". The Journal of Slavic Military Studies]]. 20 (4): 559–607. doi:10.1080/13518040701703096.
  28. "Yemen modified S 75 missiles into unguided rockets, launched them into Saudi Arabia". Alert 5. ngày 14 tháng 12 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2017.
  29. Bách khoa tri thức quốc phòng toàn dân. Nhà xuất bản chính trị quốc gia. Hà Nội. 2003. trang 418.
  30. Nghiêm Đình Tích. Lịch sử bộ đội tên lửa phòng không (1965-2005). Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân. Hà Nội. 2005. trang 58-59.
  31. E. P. Glazunov (chủ biên). Chiến tranh Việt Nam là như thế đó. Dịch giả: Đào Tuấn Anh-Nguyễn Đăng Nguyên. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. Hà Nội. 2007. trang 385
  32. "Diệt máy bay địch bằng phương pháp "3 điểm"". Quân đội Nhân dân. Báo Quân đội Nhân dân. ngày 26 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2025.
  33. "Ông cha ta đánh giặc: Tìm ra cách đánh tên lửa Shrike sau một lần bị thương". Quân đội Nhân dân. Báo Quân đội Nhân dân. ngày 2 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2025.
  34. "ЗЕНИТНАЯ РАКЕТНАЯ СИСТЕМА С-75". Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2006.
  35. "V-750". Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2008..
  36. Wade, Mark (2008). "18D". Encyclopedia Astronautica. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2010.
  37. IISS 2022, tr. 449.
  38. IISS 2022, tr. 184.
  39. IISS 2022, tr. 411.
  40. IISS 2022, tr. 340.
  41. Binnie, Jeremy (ngày 5 tháng 5 năm 2016). "Ethiopia turns S-75 SAMs into self-propelled systems". Jane's Defence Weekly. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2016.
  42. IISS 2022, tr. 344.
  43. IISS 2022, tr. 189.
  44. IISS 2022, tr. 191.
  45. IISS 2022, tr. 282.
  46. Kapila, Viney (2002). The Indian Air Force: A Balanced Strategic and Tactical Application. Prabhat Prakashan. ISBN 9788187100997.
  47. Zaloga 2007, tr. 40.
  48. IISS 2022, tr. 371.
  49. IISS 2022, tr. 317.
  50. Cooper 2018, tr. 14
  51. 1 2 3 4 5 6 7 8 Cullen & Foss 1992, tr. 261.
  52. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 O'Halloran & Foss 2002, tr. 288.
  53. IISS 1989, tr. 48.
  54. McBeth, John (ngày 27 tháng 3 năm 2021). "How a CIA operation in Indonesia turned the Vietnam War". Asia Times (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2024.
  55. "DJAKARTA SAM SITE B17-2 INDONESIA | CIA FOIA (foia.cia.gov)". www.cia.gov. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2024.
  56. "Peluncuran Terakhir S-75 "Dvina"". aviahistoria.com (bằng tiếng Indonesia). ngày 17 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2025.
  57. IISS 1989, tr. 101.
  58. Mitzer, Stijn; Oliemans, Joost (ngày 8 tháng 4 năm 2021). "Fighting The Tide: The Islamic State's Desperate Attempts to Combat Coalition Airpower". Oryx. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2024.
  59. Freed, David (tháng 12 năm 2014). "The Missile Men of North Vietnam". Smithsonian Magazine (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2024.
  60. Cooper 2018, tr. 40
  61. IISS 2022, tr. 141.
  62. IISS 2022, tr. 498.
  63. Cooper 2018, tr. 39
  64. Mitzer, Stijn; Oliemans, Joost (ngày 14 tháng 9 năm 2021). "Tigray Defence Forces Display Surface-To-Air Missiles". Oryx.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]